Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Truyện ngắn: “Vua Na Uy” – Amos Oz


Memory Suitcase

Yuval Yairi, Memory Suitcase #7, 2006

Amos Oz (1939–) là nhà văn người Israel và giáo sư ngành văn học Hebrew tại Đại học Ben-Gurion. Ông được trao giải Goethe năm 2005, giải Heinrich Heine năm 2008, và giải Franz Kafka năm 2013. Truyện ngắn “The King of Norway“ được đăng lần đầu trên The New Yorker (Jan 17, 2011 Issue), và được in trong Oz, Between Friends, trans. Sondra Silverston (Boston and New York: Houghton Mifflin Harcourt, 2013).

Vua Na Uy

Ở kibbutz của chúng tôi, Kibbutz Yekhat, có một gã, Zvi Provizor, độc thân, năm mươi lăm tuổi, lùn, mắc tật nháy mắt. Gã ưa loan tin xấu: động đất, tai nạn máy bay, nhà cửa sập xuống những người cư ngụ trong đó, hỏa hoạn, và lũ lụt. Gã đọc báo và nghe tất cả các đài tin tức vào sáng rất sớm, để đến lối vào nhà ăn gã có thể khiến chúng tôi sững sờ bằng câu chuyện về hai trăm năm mươi thợ mỏ mắc kẹt trong vô vọng ở Trung Quốc hay sáu trăm hành khách chết đuối khi một chiếc phà lật trong một cơn bão ở vùng Caribe. Gã cũng thuộc lòng cáo phó. Gã biết người nổi tiếng nào đã chết trước bất cứ ai, và sẽ thông báo cho toàn bộ kibbutz. Một buổi sáng, gã chặn tôi trên con đường cạnh trạm xá.

“Nghe tên nhà văn Wislavsky bao giờ chưa?”

“Rồi. Sao?”

“Ông ta chết rồi.”

“Rất tiếc.”

“Nhà văn cũng chết.”

Một lần khác gã bắt gặp tôi khi tôi đang dọn nhà ăn.

“Tôi thấy trên cáo phó tin ông anh mất.”

“Vâng.”

“Người ông còn lại của anh mất ba năm trước.”

“Vâng.”

“Vậy đây là người cuối cùng.”

Zvi Provizor là người làm vườn của kibbutz. Gã ra ngoài lúc năm giờ mỗi sáng để đặt lại các vòi phun nước, xới đất trong các luống hoa, trồng và tỉa và tưới, cắt cỏ bằng cái máy cắt ồn ào, phun chống rệp, và rắc phân bón hữu cơ và hóa học. Gắn vào thắt lưng gã là chiếc đài bán dẫn nhỏ cung cấp cho gã một dòng tin tức bất hạnh liên tục.

“Nghe gì chưa? Có một vụ thảm sát lớn ở Angola.”

Hay: “Bộ trưởng Bộ Tôn giáo chết rồi. Người ta mới thông báo cách đây mười phút.”

Các thành viên khác trong kibbutz lánh mặt gã. Trong nhà ăn, họ hiếm khi ngồi cùng gã ở bàn của gã. Vào những tối mùa hè, gã ngồi một mình trên băng ghế xanh ở cuối bãi cỏ lớn trước nhà ăn và xem bọn trẻ chơi đùa trên bãi cỏ. Gió tốc áo gã, thổi khô mồ hôi. Mặt trăng hè nóng nực sáng đỏ mọc trên đám cây bách cao. Một buổi tối, Zvi Provizor chào hỏi Luna Blank, người phụ nữ ngồi một mình trên băng ghế bên cạnh, buồn bã nói với cô, “Cô nghe gì chưa? Ở Tây Ban Nha, một trại trẻ mồ côi cháy rụi và tám mươi đứa đã chết vì ngạt khói.”

Luna, một giáo viên góa chồng bốn mươi lăm tuổi, lau mồ hôi trên trán bằng khăn tay và nói: “Thật khủng khiếp.”

Zvi nói, “Chỉ cứu được ba nạn nhân, đang ở tình trạng nguy kịch.”

Chúng tôi đều tôn trọng sự tận tụy của gã với công việc: chưa bao giờ, trong hai mươi hai năm sống ở kibbutz này, gã từng có một ngày nghỉ ốm nào ghi nhận trên bảng chấm công. Nhờ gã, kibbutz mới được tươi tắn. Mỗi dải đất chưa được sử dụng đều được trồng hoa theo mùa. Chỗ này chỗ kia, gã dọn những khu vườn đá nơi gã trồng nhiều loại xương rồng. Gã dựng giàn gỗ cho nho. Trước nhà ăn, gã lắp một đài phun nước róc rách chứa đầy cá vàng và cây thủy sinh. Gã có khiếu thẩm mỹ tốt, mọi người đều đánh giá cao.

Nhưng sau lưng gã chúng tôi gọi gã là Thiên sứ Tử thần và buôn chuyện về gã, nói gã không, và chưa bao giờ, quan tâm đến phụ nữ. Hoặc đến đàn ông. Một gã trẻ, Roni Shindlin, bắt chước Zvi rất đạt, khiến chúng tôi gầm lên cười. Buổi chiều, khi mọi thành viên kibbutz ngồi trên hiên nhà uống cà phê hoặc chơi với con cái trên bãi cỏ nhỏ trước nhà, Zvi Provizor sẽ đến nhà văn hóa để đọc báo với năm hoặc sáu gã độc thân như gã, những độc giả và người tranh cãi nồng nhiệt, già ế, góa vợ, hoặc đã ly hôn.

Từ góc của mình, Reuvkeh Roth, gã hói nhỏ con có đôi tai to, như dơi, sẽ lầm bầm rằng các cuộc tấn công trả đũa chỉ làm tăng tốc vòng tròn bạo lực, vì trả thù sinh trả thù và trả đũa sinh trả đũa.

Những người khác sẽ lập tức tấn công gã: “Anh nói gì thế? Chúng ta không thể để chúng tự tung tự tác!” “Kiềm chế và nhượng bộ chỉ khiến bọn Ả Rập trắng trợn hơn.”

Zvi Provizor sẽ hấp háy mắt và nói, “Cuối cùng, nó sẽ biến thành chiến tranh. Chỉ có thể gây ra một cuộc chiến khủng khiếp.”

Và Emanuel Glozman, gã nói lắp, sẽ hào hứng nói, “Ch-ch-ch-chiến tr-tranh. R-r-rất t-t-tốt. Ta s-s-sẽ thắng và ch-ch-chiếm hết đ-đ-đất của ch-chúng đến t-t-tận J-J-Jordan.”

Reuvkeh Roth sẽ nghĩ thành tiếng: “Ben-Gurion là kỳ thủ tuyệt vời. Ông ấy luôn thấy trước năm bước. Ngoại trừ việc mọi thứ với ông ấy luôn là bằng vũ lực.”

Về chủ đề này, Zvi Provizor sẽ buồn bã tiên tri, “Nếu ta thua, bọn Ả Rập sẽ đến và quét sạch chúng ta. Nếu ta thắng, bọn Nga sẽ đến và cho nổ tung chúng ta.”

Emanuel Glozman sẽ cầu xin, “Đ-đ-đủ r-r-rồi, c-c-các anh, i-i-im lặng. Ch-ch-cho tôi đọc b-b-báo trong y-y-yên bình.”

Và Zvi, sau một thoáng im lặng, sẽ nói, “Các anh nghe gì chưa? Ở đây họ nói Vua Na Uy mắc ung thư gan. Chủ tịch hội đồng khu vực của chúng ta cũng mắc ung thư.”

Bất cứ khi nào thấy Zvi ở chỗ thợ đóng giày hoặc cạnh kho quần áo, Roni Shindlin, diễn viên hài, sẽ hỏi một cách giễu nhại, “Thế, Thiên sứ Tử thần, máy bay nào rơi hôm nay?”

***

Zvi Provizor và Luna Blank bắt đầu có một thói quen: họ nói chuyện mỗi tối. Gã sẽ ngồi ở đầu bên phải của ghế bên trái dưới chân bãi cỏ còn cô ngồi gần gã, ở đầu bên trái của ghế bên phải. Gã sẽ hấp háy mắt khi nói chuyện với cô, và cô, mặc chiếc váy sát nách xinh xắn, sẽ vò nhàu chiếc khăn tay của mình giữa những ngón tay. Khen ngợi các khu vườn ở kibbutz, thành quả lao động của gã, cô nói, nhờ gã, họ được sống trên đồng cỏ xanh, dưới bóng râm của vườn cây ăn trái đang ra hoa, giữa những luống hoa đang khoe sắc. Cô có kiểu sử dụng từ ngữ bóng bảy. Cô là giáo viên lớp ba và có những bức họa tinh tế tuyệt vời vẽ bằng bút chì treo trên tường một số căn hộ nhỏ của chúng tôi. Mặt cô tròn và mỉm cười và lông mi dài, dù cổ cô đã có chút nhăn nheo và cô có đôi chân rất gầy và gần như không có ngực. Chồng cô bị sát hại mấy năm trước, trong khi làm nghĩa vụ dự bị trên biên giới Gaza và hai người chưa có con. Các thành viên kibbutz coi cô là một nhân vật đáng ngưỡng mộ, một phụ nữ đã vượt qua bi kịch và dồn toàn bộ tâm huyết vào việc giảng dạy. Zvi nói chuyện với cô về những loài hoa hồng khác nhau còn cô thì gật đầu háo hức, như thể đồng tình với từng chữ một. Sau đó, gã cho cô một mô tả chi tiết về nỗi kinh hoàng của đại dịch châu chấu đang tàn phá Sudan.

Luna nói, “Anh là người rất nhạy cảm.”

Zvi hấp háy mắt và nói, “Sudan không còn nhiều cây xanh.”

Luna nói, “Sao anh gánh mọi nỗi buồn của thế giới lên vai mình?”

Zvi trả lời, “Nhắm mắt trước tàn nhẫn của cuộc đời, theo anh, vừa ngu ngốc vừa tội lỗi. Chúng ta không thể làm gì nhiều. Nên ít nhất chúng ta phải thừa nhận nó.”

***

Một tối mùa hè, Luna Blank mời Zvi đến nhà uống cà phê. Gã mặc bộ quần áo sau giờ làm, quần kaki dài với sơ mi xanh lơ cộc tay. Đài của gã gắn vào thắt lưng, và đến tám giờ gã xin phép nghe tin tức. Trên tường trong phòng của Luna là một số bức tranh cô vẽ bằng bút chì trong những chiếc khung đơn giản, vẽ những cô gái trẻ mơ mộng và cảnh quan, những ngọn đồi đá và những cây ô liu. Bên dưới cửa sổ là giường đôi với những chiếc gối thêu phương Đông. Một dãy sách trên chiếc bàn đầu giường màu trắng được sắp xếp theo chiều cao, từ những tập tranh khổ cao của Van Gogh, Cézanne, và Gauguin đến những cuốn Kinh Thánh bản Cassuto khổ thấp hơn và, cuối cùng, một loạt tiểu thuyết do Hasifria Le’Am xuất bản. Ở giữa phòng là bàn uống cà phê tròn với hai chiếc ghế bành đơn giản bên cạnh. Trên bàn phủ một tấm khăn trải thêu tay và đã sắp chén đĩa cho cà phê và bánh quy.

Zvi Provizor nói, “Phòng của em rất đẹp,” rồi thêm, “Sạch. Gọn.”

Xấu hổ, Luna Blank nói, “Cảm ơn anh. Em rất vui.”

Nhưng không có niềm hân hoan trong giọng nói của cô, chỉ có vẻ căng thẳng ngượng nghịu.

Sau đó họ uống cà phê và ăn bánh và nói về cây cảnh và cây ăn quả, về những vấn đề kỷ luật ở trường trong những ngày gần đây, khi mọi thứ đều được phép, về cuộc di cư của loài chim.

Zvi hấp háy mắt và nói, “Anh đọc trên báo thấy ở Hiroshima, mười năm sau quả bom, vẫn không có con chim nào.”

Luna bảo gã một lần nữa, “Anh gánh mọi nỗi buồn của thế giới lên vai mình.”

Cô cũng nói, “Hôm kia em thấy một con đầu rìu trên cành cây thấp bên ngoài cửa sổ.”

***

Vậy là họ bắt đầu gặp nhau thường xuyên vào những giờ đầu của buổi tối, trên một băng ghế trong vườn dưới bóng giàn hoa giấy um tùm, hoặc cà phê trong phòng Luna. Zvi đi làm về lúc bốn giờ, tắm, chải tóc trước gương, mặc bộ quần ka ki và áo xanh lơ đã là, rồi đến nhà cô. Thỉnh thoảng gã mang đến cây giống của những loài hoa nhất niên để trồng trong mảnh vườn nhỏ của cô. Một lần, gã mang cho cô một tập thơ của Yaakov Fichman. Cô cho gã bánh quy hạt thuốc phiện trong một cái túi và tranh vẽ hai cây bách và một băng ghế bằng bút chì. Nhưng đến tám giờ hoặc tám rưỡi họ sẽ chúc ngủ ngon và Zvi trở về căn phòng như tu viện của mình, nơi mùi độc thân treo nặng nề trong không khí.

Roni Shindlin nói trong nhà ăn là Thiên sứ Tử thần đã giang rộng đôi cánh của mình bao lấy Góa phụ đen. Trong nhà văn hóa buổi chiều, Reuvkeh Roth trêu Zvi một cách trìu mến: “Thế là bàn tay đã tìm được găng, nhỉ?” Nhưng Zvi và Luna đều không khó chịu trước tin đồn và châm chọc. Dường như mối liên kết giữa hai người ngày càng bền chắc. Gã bảo cô rằng trong thời gian rảnh gã đang dịch một cuốn tiểu thuyết của nhà văn người Ba Lan Iwaszkiewicz sang tiếng Hebrew. Cuốn sách đầy dịu dàng và đau khổ. Iwaszkiewicz tin cảnh ngộ con người phi lý nhưng cảm động. Luna lắng nghe, đầu hơi nghiêng, môi hé mở, khi cô rót cà phê nóng vào cốc của gã, như thể cà phê là một dạng bù đắp cho nỗi buồn của Iwaszkiewicz cũng như của chính gã. Cô cảm thấy mối quan hệ của hai người rất quý và cô trân trọng cách mà nó lấp đầy cuộc sống của cô, cho đến khi ấy vẫn rất bằng phẳng và đơn điệu. Một đêm, cô mơ thấy hai người cùng nhau cưỡi ngựa, ngực cô áp chặt vào lưng gã và vòng tay ôm quanh eo gã, ở một thung lũng giữa những ngọn đồi cao, nơi một dòng sông đầy bọt nước lượn dòng và đổi hướng. Cô quyết định không kể giấc mơ này cho Zvi, dù cô đã kể cho gã chi tiết về những giấc mơ khác. Zvi, về phần mình, bảo cô rằng, hồi còn là một đứa trẻ ở thị trấn Yanov của Ba Lan, gã mơ ước trở thành sinh viên. Nhưng thay vào đó gã bị cuốn vào phong trào thanh niên chalutz mới được thành lập và từ bỏ kế hoạch học hành. Dù vậy, gã vẫn chưa bao giờ ngừng học hỏi. Cẩn thận nhặt mảnh vụn khỏi khăn trải bàn, Luna nói, “Chắc hẳn anh phải là một thanh niên rất nhút nhát. Giờ anh vẫn có phần nhút nhát.”

Zvi nói, “Em thực sự không biết anh.”

Luna nói, “Kể cho em. Em đang nghe.”

Zvi nói, “Tối nay anh nghe trên đài một ngọn núi lửa phun trào ở Chile. Bốn ngôi làng bị một dòng dung nham phá hủy hoàn toàn. Phần lớn người dân ở đó không có cơ hội.”

Một buổi tối, khi gã thết đãi cô bằng một lời mô tả cảm động về nạn đói ở Somalia, tình cảm dành cho gã bỗng trở nên choáng ngợp đến nỗi đột nhiên cô nắm lấy tay gã và giữ chặt trước ngực mình. Zvi run rẩy và nhanh chóng giật lại, bằng một cử chỉ gần như thô bạo. Mắt gã hấp háy điên cuồng. Chưa bao giờ trong cuộc đời mình gã chủ động chạm vào người khác và gã vẫn cứng cả người mỗi khi bị động chạm. Gã thích cảm giác của nắm đất rời rạc và sự mềm mại của cọng non, nhưng cái động chạm của người khác, đàn ông hay phụ nữ, lại khiến cả cơ thể gã rụt lại như thể bị bỏng. Gã luôn cố gắng tránh những cái bắt tay, những cú vỗ lưng, những lần vô tình cọ khuỷu trên bàn ăn. Một thời gian ngắn sau, gã đứng dậy và bỏ đi.

Hôm sau gã không đến gặp Luna. Gã đã bắt đầu cảm thấy mối quan hệ của hai người đang hướng về một nơi tai hại mà gã không muốn đến, một nơi cự tuyệt gã. Luna, với sự tế nhị thường lệ, đoán mình đã xúc phạm gã thế nào đó. Cô quyết định xin lỗi, dù không biết để làm gì. Cô đã hỏi một câu hỏi không nên hỏi? Hay có lẽ cô không nắm bắt được một ý nghĩa quan trọng nào đó ẩn giấu trong những lời nói của gã?

Hai hôm sau, khi gã không ở trong phòng, cô đút một mẩu giấy qua dưới cánh cửa: “Em xin lỗi nếu làm anh khó chịu. Mình nói chuyện được không?”

Zvi trả lời bằng mẩu giấy của gã: “Không thì tốt hơn. Chỉ kết thúc tồi tệ mà thôi.”

Nhưng cô vẫn chờ gã sau bữa tối dưới gốc xoan gần cửa nhà ăn và rụt rè nói, “Nói em biết em đã làm gì.”

“Không có gì.”

“Thế sao anh tránh em?”

“Cố mà hiểu—nó… vô nghĩa.”

Họ không bao giờ chủ động gặp lại nhau, và nếu tình cờ gặp nhau trên đường hay trong căn phòng nhỏ chứa đồ thì họ chỉ gật đầu với nhau, ngần ngại một lúc, rồi ai đi đường nấy.

Bữa trưa, Roni Shindlin nói với những người cùng bàn rằng Thiên sứ Tử thần đã rút ngắn tuần trăng mật của gã và, từ giờ trở đi, bọn họ sẽ lại gặp nguy hiểm. Và, trên thực tế, chiều hôm ấy Zvi đã báo cho những gã độc thân ở nhà văn hóa biết một cây cầu lớn ở Thổ Nhĩ Kỳ đã sập, hơn nữa lại đúng đỉnh điểm của giờ cao điểm.

***

Hai ba tháng sau, chúng tôi nhận ra Luna Blank đã thôi đến nhóm nhạc cổ điển và thậm chí còn vắng mặt trong nhiều cuộc họp giáo viên. Cô nhuộm tóc đỏ đồng và bắt đầu đánh son sáng màu. Thỉnh thoảng cô bỏ bữa tối. Vào dịp lễ Sukkoth, cô ở lại thành phố trong một vài ngày và trở lại với bộ váy mà chúng tôi cho là có chút táo bạo, với một đường xẻ dài ở bên. Đầu mùa thu, chúng tôi thấy cô một vài lần ngồi trên băng ghế cạnh bãi cỏ lớn với huấn luyện viên bóng rổ, một thanh niên trẻ hơn cô mười tuổi, đến kibbutz hai lần một tuần. Roni Shindlin nói có thể cô đang học lừa bóng vào ban đêm. Hai ba tuần sau, cô bỏ huấn luyện viên bóng rổ và người ta nhìn thấy cô đi cùng chỉ huy đơn vị kibbutz của Đoàn Thanh niên Xung kích, một cậu hai mươi hai. Không cách nào làm ngơ trước điều này, Ủy ban Giáo dục đã họp kín để thảo luận về những tác động chuyên môn.

Mỗi tối, Zvi Provizor ngồi một mình, hoàn toàn yên lặng, trên băng ghế cạnh đài phun nước trang trí mà gã lắp đặt bằng đôi tay của chính mình và xem bọn trẻ chơi đùa trên bãi cỏ. Nếu đi ngang qua và chào hỏi, gã sẽ đáp lại lời chào và buồn bã kể về lũ lụt ở Đông Nam Trung Quốc.

Cuối mùa thu ấy, không báo trước và không có giấy phép của ban thư ký kibbutz, Luna Blank đến Mỹ thăm người em gái đã gửi cho cô vé máy bay từ trước. Một buổi sáng người ta nhìn thấy cô ở trạm xe buýt, mặc trang phục táo bạo và quàng một chiếc khăn sáng màu, loạng choạng trên đôi giày cao gót và kéo theo một va li lớn. “Đã ăn vận cho Hollywood,” Roni Shindlin nói. “Góa phụ đen đang trốn Thiên sứ Tử thần.” Ban thư ký quyết định đình chỉ tư cách thành viên kibbutz của cô trong lúc chờ điều tra thêm.

Trong khi đó, phòng Luna Blank vẫn khóa và tối, dù đang thiếu nhà ở và một số thành viên của Ủy ban Nhà ở đã theo dõi nó cẩn thận. Năm hoặc sáu loại cây trồng trong nhà thông thường—trầu bà, thiên trúc quỳ, xương rồng—để dưới mái hiên nhỏ, và Zvi Provizor thỉnh thoảng lại qua tưới nước và chăm sóc chúng.

Rồi mùa đông đến. Những đám mây mù thấp lơ lửng trên đỉnh đám cây cảnh. Lớp bùn dày lót dưới các cánh đồng và cây ăn trái, những người hái quả và nông dân vào làm việc trong nhà máy. Mưa xám rơi không ngớt. Ban đêm, máng nước rung lắc ồn ào và cơn gió lạnh thấm vào qua những khe hở trên cửa chớp. Zvi Provizor ngồi mỗi tối nghe đài tin tức, và, trong giờ nghỉ giữa các chương trình, gã cúi xuống bàn dưới ánh sáng của chiếc đèn cổ ngỗng và dịch sang tiếng Hebrew một vài dòng tiểu thuyết đầy thống khổ của Iwaszkiewicz. Bức vẽ bằng bút chì mà Luna tặng gã—hai cây bách và một băng ghế—treo phía trên giường. Cây trông u sầu còn băng ghế thì trống trải. Lúc mười rưỡi, gã sẽ quấn gì đó quanh mình và ra ngoài hiên nhìn mây và những con đường bê tông vắng vẻ, mặt đường sáng lấp lánh dưới ánh đèn vàng. Nếu trời tạnh giữa những trận mưa lớn, gã sẽ có một cuộc dạo đêm ngắn ngủi để xem cây cối dưới hiên nhà Luna ra sao. Lá rụng đã phủ lên những bậc thềm, và Zvi nghĩ mình có thể nhận ra mùi hương nhẹ nhàng của xà phòng hay dầu gội trôi ra từ trong căn phòng khóa. Gã lang thang một lúc dọc theo con đường vắng, nước nhỏ xuống từ những cành cây phía trên mái đầu trần, rồi về phòng và lắng nghe trong bóng tối, với đôi mắt mở, những bản tin cuối cùng trong ngày. Một sáng sớm, khi mọi thứ còn bao phủ trong màn đêm ướt lạnh, gã chặn một công nhân sữa đang trên đường đến vắt sữa bò và buồn bã thông báo với anh ta, “Nghe gì chưa? Vua Na Uy qua đời đêm qua. Ung thư. Gan.”

Copyright © 2011 by Amos Oz | Bản dịch © 2016 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

2 comments on “Truyện ngắn: “Vua Na Uy” – Amos Oz

  1. Anh kim
    July 20, 2016

    Mấy ngày này tôi chọn đọc truyện ngắn – Amos Oz do Nguyễn Huy Hoàng dịch. Cám ơn bạn đã chọn dịch chúng, lời văn Việt vừa chạm vừa tinh tế, nó làm tôi yêu thích nhà văn này. Lần nữa cám ơn bạn.

    Liked by 1 person

  2. maianhtuan
    July 31, 2016

    Những truyện ngắn nước ngoài được dịch ở blog này, không chỉ của Amos Oz, mà còn của nhiều nhà văn khác, đều rất đáng đọc. Tôi nhận thấy sự nghiêm túc và tận tâm của anh Nguyễn Huy Hoàng trong việc dịch văn học.

    Có thể không hợp ý anh nhưng tôi hi vọng (và tin) những tác phẩm dịch của anh sẽ hướng đến xuất bản thành sách. Vì như thế, nhiều độc giả sẽ có cơ hội đọc sâu một tác giả hoặc các vấn đề văn chương/văn hóa nghệ thuật mà anh lựa chọn.

    Liked by 1 person

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on June 24, 2016 by in Truyện and tagged , .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,647 other followers

%d bloggers like this: