Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

“Văn chương và tiến bộ” – Mario Vargas Llosa


Vargas Llosa

Mario Vargas Llosa (1936–) là nhà văn người Peru. Ông được trao giải de Cervantes năm 1994 và giải Nobel văn học năm 2010. “Văn chương và tiến bộ” là một phần trong bài giảng “Văn chương và tự do” (Vargas Llosa, Literature and Freedom [St Leonards, NSW: Centre for Independent Studies, 1994], pp. 7–9) của ông tại Trung tâm Nghiên cứu Độc lập, một viện nghiên cứu chính sách ở Úc vào tháng 9 năm 1993.

Văn chương và tiến bộ

Tự do sáng tạo không bảo đảm thiên tài: nó chỉ đơn thuần là nền tảng thuận lợi để từ đó thiên tài có thể nảy sinh. Mặt khác, khi tự do không tồn tại, sự nảy sinh ấy có rất ít khả năng diễn ra, bởi nhân cách toàn thể phải can thiệp vào sáng tạo nghệ thuật: ý thức và vô thức, ánh sáng duy lý và hỗn độn phi lý, tìm kiếm cái chưa biết. Chỉ tác phẩm nghệ thuật sinh ra từ toàn thể con người, và bao hàm sự táo bạo về đạo đức cũng như kỹ năng, mới vượt qua thời gian và không gian. Điều này hiếm khi diễn ra trong các nền văn hóa đàn áp, dù là tôn giáo hay ý thức hệ, trong đó, do kiểm duyệt hoặc tự kiểm duyệt, người sáng tạo phải áp đặt một sự thận trọng duy lý một cách có hệ thống lên những gì mà anh ta viết để không vi phạm những giới hạn của sự khoan dung.

Giờ đây, việc tự do là động cơ của tiến bộ xã hội và tiến bộ vật chất cũng như tri thức không được khiến chúng ta quên đi sức nặng của những bất hạnh mà nó cũng đã gây ra cho con người. Tự do, nếu không có nghĩa là xóa bỏ thì ít nhất cũng là giảm thiểu triệt để và nâng cao nhận thức về nhu cầu đấu tranh chống bất công và lạm dụng chính trị; nhưng chúng ta phải ghi nhớ cái giá đắt mà chúng ta phải trả để bảo vệ tự do. Bởi không trong lĩnh vực nào như trong lĩnh vực tự do mà sự phức tạp căn bản của hành vi con người lại rõ ràng đến thế. Không bao giờ hoàn toàn tích cực hay tiêu cực—tốt hay xấu—mà tương đối mặt này hay mặt kia, ở những liều lượng thường rất khó đong đếm.

Trong lĩnh vực kinh tế, chính sự tự do đã thúc đẩy tiến bộ cũng là nguồn gốc của bất bình đẳng và có thể mở ra những cách biệt rất lớn giữa những người có rất nhiều và những người có rất ít hoặc không có gì. Sự tò mò và sáng tạo mà nó thúc đẩy đã cho phép con người chế ngự bệnh tật, khám phá những vực thẳm của biển khơi, của vật chất và cơ thể, và, đi ngược định luật hấp dẫn, bay trên những bầu trời. Nhưng nó cũng cho phép con người chế tạo ra những vũ khí có thể biến bất cứ nhà nước hiện đại nào thành một ngòi nổ tiềm năng của dạng tàn phá và diệt chủng khiến những nỗ lực của Nero, Thành Cát Tư Hãn, hay Thiếp Mộc Nhi trông giống như những trò vui ở sân chơi.

Từ nghịch lý đáng buồn này, chúng ta nên xem xét những cách thức tiến hóa khác nhau của khoa học và văn học. Chỉ trong khoa học thì khái niệm “tiến bộ” mới mang một ý nghĩa riêng biệt và theo thứ tự thời gian: sự phám khá mang tính tiến bộ những tri thức khiến những phám phá trước đó trở nên lỗi thời và mang lại những điều kiện sống tốt hơn cho con người và tăng cường sự thống trị của con người đối với thiên nhiên. Tuy nhiên, trong khi đẩy lùi bệnh tật, ngu dốt, và thiếu thốn, tiên tiến khoa học lại làm nổi bật tính dễ bị tổn thương của sự tồn tại thông qua sự hoàn hảo của vũ khí.

Ở đây có một quy luật không ngoại lệ. Trước mỗi giai đoạn cực thịnh của khoa học là sự phát triển của công nghệ quân sự và nó đã chứng kiến những cuộc chiến mà trong đó sự tàn sát cũng tiến triển về số lượng nạn nhân và hiệu quả của sự hủy diệt. Từ hộp sọ mà vượn người nguyên thủy đập nát đến sự hủy diệt thành phố Hiroshima và Nagasaki đã có một lịch sử lâu dài, trong đó sự phát triển khoa học có vẻ đã không thể đạt được một bước tiến tương đương trong hành vi đạo đức. Văn minh dường như là một động vật hai đầu. Một đầu vươn tới bầu trời: lý tưởng, độ lượng, đôi mắt nhất mực hướng về một mục tiêu hòa bình, một cuộc sống lành mạnh hơn, hạnh phúc hơn, và nhân ái hơn. Đầu còn lại, lướt trên mặt đất, liên tục suy nghĩ về những dự tính quyền lực cũ của mình bằng mọi giá, bao gồm cả sự hủy diệt tàn bạo nhất. Trong kỷ nguyên hạt nhân tiến trình này đã đạt đến giới hạn của nó. Trong lúc tạo ra những hình thức chu toàn hơn của phúc lợi, khoa học đồng thời xâm nhiễm hành tinh bằng những thiết bị có khả năng đưa địa cầu về tình trạng nguyên thủy của một ngôi sao chết quay lệch tông trong bóng tối vũ trụ.

Mỗi khái niệm “tiến bộ” đều có vấn đề trong văn học. Thần khúc có thể hay hơn hay dở hơn Odyssey, và độc giả có thể thích Ulysses của Joyce hơn Don Quixote. Nhưng không tác phẩm văn học lớn nào xóa bỏ hay làm nghèo nàn tác phẩm xuất hiện mười thế kỷ trước. Điều đó, tuy nhiên, chính là những gì sẽ diễn ra trong lĩnh vực khoa học, nơi hóa học xóa bỏ giả kim (hoặc biến nó thành văn học). Tinh thần hủy diệt, dường như cố hữu trong khả năng sáng tạo của con người, không vắng bóng trong văn học. Trái lại, bạo lực thể chất và tinh thần hiện diện thường trực trong thơ, kịch, và tiểu thuyết của mọi thời kỳ. Máu và thi thể của những nạn nhân trong văn học có thể cũng nhiều như những người sẽ chết trong cuộc sống bình thường trong một tận thế hạt nhân. Dĩ nhiên, có một sự khác biệt. Nếu có một cuộc chiến tranh hạt nhân thì trò chơi con người như chúng ta biết sẽ kết thúc. Mặt khác, mọi sự tàn phá và những cuộc truy hoan đẫm máu trong văn học chỉ tạo ra những cơn co thắt, cực cảm, và một vài cực khoái trong độc giả.

Điều mà tôi đang cố gắng diễn đạt là không có cách nào tận diệt động lực hủy diệt của con người, cái giá phải trả cho năng lực sáng tạo; niềm tin của tôi là chúng ta nên đến hướng nó đến sách thay vì đến những công cụ tiện nghi. Văn học có thể giảm thiểu động lực này mà không gặp nhiều rủi ro. Có lẽ chúng ta nên xem xét lại thôi thúc đã biến khoa học thành công cụ độc quyền của tiến bộ, mà giáng thơ, truyện, kịch, và tiểu thuyết xuống vai trò thứ cấp là giải trí đơn thuần. Văn học cũng là thế này, dĩ nhiên: một phép thuật đẹp đẽ cho chúng ta đôi chút nguồn sống mà những khát khao của chúng ta mong mỏi trong vô ích bởi chúng ta phải chịu cảnh muốn nhiều hơn những gì mà chúng ta có. Nhưng văn học còn hơn thế nữa. Đó là một thực tại nơi con người có thể hạnh phúc dọn sạch những ngăn hốc tăm tối trong tinh thần, đem lại tự do tuyệt đối cho những ham muốn, ước mơ, và ám ảnh xấu xa nhất, cho những ác quỷ song hành với những thiên thần bên trong anh ta và nếu được vật chất hóa, chúng sẽ khiến cuộc sống trở nên bất khả. Trong màn sương mờ ảo của văn học, tinh thần hủy diệt có thể vận hành mà không bị trừng phạt, đi vào bất cứ quỹ đạo nào mà nó chọn, và đồng thời có thể vô hại và thậm chí lành tính, nhờ tác dụng thanh tẩy mà cuộc gặp với những ác quỷ riêng tư gây ra cho độc giả. Đối lập với nền văn minh khoa học, thông qua đó chúng ta trở nên mong manh hơn tổ tiên của chúng ta trước khi họ phát hiện ra lửa và học cách chiến đấu với hổ, dưới sự bảo trợ của nền văn minh văn học, nhiều con người phi thực tế, thụ động, và mơ mộng hơn sẽ ra đời. Nhưng họ chắc chắn sẽ ít nguy hiểm với đồng bào hơn chúng ta, bởi chúng ta đã bỏ phiếu cho công cụ tiện nghi mà chống lại sách. ♦

Copyright © 1993 by Mario Vargas Llosa | Bản dịch © 2016 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on September 3, 2016 by in Tiểu luận, Văn hóa & Xã hội and tagged .

Archives

Categories

%d bloggers like this: