Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Salman Rushdie: Sự thật, giả dối, và văn chương


salman-rushdie.jpg

Salman Rushdie in 2012 | Photo by Ben Pruchnie/Getty Images

Nguồn: Salman Rushdie, “Truth, Lies, and Literature,” The New Yorker, May 31, 2018.

Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng

“Sao, người điên rồi? Người điên rồi sao?” Falstaff vặn hỏi Thân vương Hal, trong “Henry IV, Phần 1,” của Shakespeare. “Sự thật chẳng phải là sự thật sao?” Cái hài hước ở đây tất nhiên là ông ta nói dối như cuội, và vị thân vương đang sắp sửa vạch trần bộ mặt dối trá của ông ta.

Ở một thời như thời hiện tại, khi thực tại dường đang như bị tấn công ở mọi nơi, quan niệm gian dối của Falstaff về sự thật dường như được nhiều nhà lãnh đạo quyền lực chia sẻ. Ở ba đất nước mà tôi dành cả đời mình để quan tâm—Ấn Độ, Vương quốc Anh, và Hoa Kỳ—những giả dối vì tư lợi thường được thể hiện như những sự thật, trong khi các thông tin đáng tin cậy hơn lại bị nói là “tin giả.” Tuy nhiên, những người bảo vệ cái thật, trong khi cố gắng ngăn dòng chảy của thông tin giả khỏi tràn ngập chúng ta, lại thường mắc sai lầm là khao khát cái thời kỳ vàng son khi sự thật là cái không thể phản đối và được chấp nhận một cách phổ quát, và tranh luận rằng cái mà chúng ta cần là trở lại với sự đồng thuận vui vẻ ấy.

Sự thật là, sự thật luôn luôn là một ý tưởng đầy tranh cãi. Thời còn là sinh viên lịch sử ở Cambridge, tôi đã học được từ rất sớm rằng có những thứ là những “thực tế căn bản”—tức là, những sự kiện không thể tranh cãi, chẳng hạn như Trận Hastings diễn ra năm 1066, hay Tuyên ngôn Độc lập Mỹ được thông qua vào ngày 4 tháng 7 năm 1776. Nhưng sự hình thành một thực tế lịch sử lại là kết quả của một ý nghĩa cụ thể được gán cho một sự kiện. Julius Caesar vượt sông Rubicon là một sự kiện lịch sử. Nhiều người khác cũng vượt qua con sông đó, nhưng lịch sử không quan tâm đến hành động của họ. Theo ý nghĩa này, những cuộc vượt sông khác không phải là một thực tế. Hơn thế, thời gian trôi qua thông thường cũng làm thay đổi ý nghĩa của một thực tế. Trong thời kỳ Đế quốc Anh, cuộc nổi dậy quân sự năm 1857 được gọi là Cuộc nổi loạn Ấn Độ, và, bởi vì nổi loạn là một cuộc nổi dậy chống lại chính quyền hợp thức, nên cái tên ấy, và do đó ý nghĩa của thực tế ấy, đã đặt những người Ấn Độ “nổi loạn” vào sai chỗ. Các sử gia Ấn Độ ngày nay gọi sự kiện này là Cuộc nổi dậy Ấn Độ, biến nó thành một kiểu thực tế hoàn toàn khác, mang một ý nghĩa khác. Quá khứ liên tục được sửa đổi theo thái độ của hiện tại.

Nhưng cũng có một sự thật nhất định trong ý niệm rằng ở phương Tây trong thế kỷ 19 có một sự đồng thuận khá phổ biến về đặc tính của thực tại. Các tiểu thuyết gia vĩ đại thời ấy—Gustave Flaubert, George Eliot, Edith Wharton, v.v.—có thể giả định rằng họ và độc giả của họ, nói một cách rộng rãi, cùng đồng tình về bản chất của cái thật, và thời đại vĩ đại của tiểu thuyết hiện thực đã được xây dựng trên nền tảng ấy. Nhưng sự đồng thuận ấy được xây dựng trên rất nhiều sự loại trừ. Đó là sự đồng thuận của tầng lớp trung lưu và da trắng. Ví dụ, quan điểm của các dân tộc bị thuộc địa hóa, hay là các chủng tộc thiểu số—các quan điểm mà từ đó thế giới trông rất khác với thực tại tư sản được thể hiện trong, ví dụ, “The Age of Innocence,” hay “Middlemarch,” hay “Madame Bovary”—phần lớn đã bị xóa khỏi dòng tự sự. Tầm quan trọng của các vấn đề công cộng lớn cũng thường bị gạt ra ngoài lề. Trong toàn bộ tác phẩm của Jane Austen, các cuộc chiến của Napoléon hầu như không được đề cập đến; trong khối tác phẩm khổng lồ của Charles Dickens, sự tồn tại của Đế chế Anh chỉ được công nhận một cách xiên xẹo.

Trong thế kỷ 20, dưới áp lực của các thay đổi xã hội lớn, sự đồng thuận của thế kỷ 19 đã được cho thấy là mỏng manh; cái nhìn của nó về thực tại bắt đầu trông, ta có thể nói, giả dối. Ban đầu, một số trong các nghệ sĩ văn chương vĩ đại nhất tìm cách ghi lại thực tại đang thay đổi bằng cách dùng các phương pháp của tiểu thuyết hiện thực—như Thomas Mann làm trong “Buddenbrooks,” hay Junichiro Tanizaki trong “The Makioka Sisters”—nhưng dần dần tiểu thuyết hiện thực dường như ngày càng có vấn đề, và các nhà văn từ Franz Kafka đến Ralph Ellison và Gabriel García Márquez đã tạo ra các văn bản kỳ lạ, siêu thực hơn, kể sự thật bằng những sự hiển nhiên không thật, tạo ra một kiểu thực tại mới, như thể bằng phép thuật.

Trong phần lớn cuộc đời nhà văn của mình, tôi đã lập luận rằng sự sụp đổ trong những đồng thuận cũ về thực tại chính là thực tại quan trọng nhất, và có lẽ thế giới có thể được giải thích tốt nhất theo các tự sự xung đột và thường là không tương thích. Ở Kashmir và ở Trung Đông, và trong trận chiến giữa nước Mỹ tiến bộ và nước Mỹ của Trump, chúng ta thấy ví dụ về những sự bất tương thích như vậy. Tôi cũng cho rằng hệ quả của cái thái độ mới, mang tính tranh biện, thậm chí bút chiến đối với cái thật có những hàm ý sâu sắc đối với văn chương—rằng chúng ta không thể, hay không nên, giả vờ rằng nó không tồn tại. Tôi tin rằng ảnh hưởng lên diễn ngôn công cộng của những tiếng nói đa dạng, và đa dạng hơn nữa, là một điều tốt đẹp, làm phong phú thêm các nền văn học của chúng ta và làm phức tạp thêm hiểu biết của chúng ta về thế giới.

Nhưng giờ thì tôi đối mặt, như tất cả chúng ta, với một câu hỏi hóc búa thực sự. Làm sao chúng ta có thể lập luận rằng, một mặt, thực tế hiện đại đã trở nên đa chiều, vụn vỡ và phân mảnh một cách tất yếu và, mặt khác, thực tại là một thứ rất đặc biệt, một chuỗi không thể tranh cãi của những thứ là vậy, cần được bảo vệ trước sự tấn công của, nói một cách thẳng thắn, những thứ không phải là vậy, những thứ đang được, ví dụ, chính quyền Modi ở Ấn Độ, băng đảng Brexit ở Anh, và Tổng thống Mỹ, khuếch trương? Làm sao chống lại những khía cạnh tồi tệ nhất của Internet, cái vũ trụ song song mà các thông tin quan trọng và rác rưởi tuyệt đối cùng tồn tại, song hành, với mức độ thẩm quyền có vẻ là tương đương, khiến người ta khó phân biệt hơn bao giờ hết? Làm sao chống lại sự xói mòn trong sự chấp nhận các “thực tế căn bản” của công chúng, các thực tế khoa học, các thực tế có bằng chứng hỗ trợ về, ví dụ, thay đổi khí hậu hay tiêm chủng trẻ em? Làm sao chống lại nền chính trị mị dân tìm cách làm những thứ mà các nhà chuyên chế luôn muốn làm—tức là làm suy yếu niềm tin của công chúng vào bằng chứng, và nói với cử tri của họ rằng, về cơ bản, “Đừng tin gì ngoài tôi, bởi tôi là chân lý?” Chúng ta phải làm gì? Và, đặc biệt, vai trò của nghệ thuật, và vai trò của nghệ thuật văn chương nói riêng, có thể là gì?

Tôi không làm như mình có một câu trả lời trọn vẹn. Nhưng tôi có nghĩ là chúng ta cần thừa nhận rằng ý niệm của bất cứ xã hội nào về sự thật cũng luôn luôn là sản phẩm của một cuộc tranh luận, và chúng ta cần làm tốt hơn để giành phần thắng trong cuộc tranh luận ấy. Dân chủ không phải là lịch sự. Nó thường là một cuộc đấu khẩu ở quảng trường công cộng. Chúng ta cần can dự vào cuộc tranh luận nếu muốn có cơ hội giành phần thắng. Về phần các nhà văn, chúng ta cần xây dựng lại niềm tin vào tranh luận của độc giả từ bằng chứng thực tế, và làm cái mà hư cấu luôn làm tốt—đó là xây dựng, giữa nhà văn và độc giả, một hiểu biết về cái gì là thật. Tôi không nói là xây dựng lại sự đồng thuận hẹp, độc quyền, của thế kỷ 19. Tôi muốn thấy trong văn chương hiện đại một cái nhìn rộng hơn, nhiều tranh cãi hơn về xã hội. Nhưng khi đọc một quyển sách mình thích, thậm chí yêu, chúng ta thấy mình đồng tình với chân dung của nó về cuộc sống con người. Phải, chúng ta nói, chúng ta là như thế, đây là cái chúng ta làm với những con người khác, đúng thế. Đó có lẽ là nơi văn chương có thể hữu ích nhất. Chúng ta có thể làm người ta, trong thời đại của sự bất đồng cực đoan này, đồng tình về những sự thật của sự thay đổi vĩ đại, tức bản chất con người. Hãy bắt đầu từ đó.

Ở Đức, sau Thế chiến thứ II, những tác giả của cái gọi là Trümmerliteratur, hay “văn học đổ nát,” cảm thấy cần phải xây dựng lại ngôn ngữ của họ, vốn đã bị chủ nghĩa Quốc xã đầu độc, cũng như đất nước họ, đang nằm trong hoang tàn. Họ hiểu rằng thực tại, sự thật, cần phải được xây dựng lại từ đầu, bằng một ngôn ngữ mới, cũng như các thành phố bị ném bom cần được xây dựng lại. Tôi nghĩ chúng ta có thể học hỏi từ tấm gương của họ. Chúng ta đứng một lần nữa, dẫu vì những lý do khác nhau, giữa đống đổ nát của sự thật. Và đó là việc của chúng ta—các nhà văn, nhà tư tưởng, nhà báo, các triết gia—việc tiến hành cái nhiệm vụ là xây dựng lại niềm tin của độc giả vào thực tại, đức tin của họ vào sự thật. Và làm vậy bằng một ngôn ngữ mới, lại từ đầu.

Salman Rushdie là nhà văn người Anh gốc Ấn Độ. Ông được trao giải Man Booker năm 1981.

Advertisements

One comment on “Salman Rushdie: Sự thật, giả dối, và văn chương

  1. Pingback: Salman Rushdie: Sự thật, giả dối, và văn chương – Viva Forever

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s

Information

This entry was posted on June 3, 2018 by in Văn chương & Phê bình, Văn hóa & Xã hội and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,751 other followers

%d bloggers like this: