Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

“Cái điều kiện chúng ta gọi là lưu vong” – Joseph Brodsky

Joseph Brodsky sinh năm 1940 ở Leningrad và định cư ở Hoa Kỳ từ năm 1972 sau khi bị chính quyền Liên Xô trục xuất. Ông được trao giải phê bình của Hiệp hội Nhà Phê bình Sách Quốc gia Mỹ năm 1986 và giải Nobel văn chương năm 1987, sau đó được bổ nhiệm làm Poet Laureate của Hoa Kỳ từ năm 1991 đến năm 1992. Ông qua đời ở New York City năm 1996.

Cái điều kiện chúng ta gọi là lưu vong

Viết cho Hội nghị Wheatland, tổ chức ở Vienna tháng Mười một năm 1987.

Trong khi tụ họp ở đây, trong căn phòng đẹp đẽ và sáng sủa buổi tối tháng Mười hai lạnh giá này, để thảo luận về tình cảnh của nhà văn lưu vong, chúng ta hãy dừng lại một phút và hình dung về một số trong số những người, một cách khá tự nhiên, đã không đến được căn phòng này. Hãy hình dung, chẳng hạn, những gastarbeiter người Thổ Nhĩ Kỳ lang thang trên các con phố Tây Đức, không hiểu hoặc ghen tị với thực tế xung quanh. Hoặc hãy hình dung những thuyền nhân người Việt đang lênh đênh trên biển hoặc đã định cư ở một nơi hẻo lánh nào đó của nước Úc. Hãy hình dung những người Mexico bò qua các khe núi ở Nam California, qua các cuộc tuần tra biên giới vào lãnh thổ Hoa Kỳ. Hoặc hãy hình dung những chuyến tàu chở người Pakistan đáp xuống một nơi nào đó ở Kuwait hay Ả Rập Xê-út, khao khát những công việc chân tay mà người dân địa phương vốn giàu có vì dầu mỏ sẽ không làm. Hãy hình dung vô số người Ethiopia lết bộ qua sa mạc để đến Somalia (hay ngược lại?) tránh đói. Chúng ta có thể dừng lại ở đây vì một phút hình dung đã trôi qua, mặc dù còn có thể thêm rất nhiều người vào danh sách ấy. Không ai đếm những người này và sẽ không ai đếm, kể cả các tổ chức cứu trợ của Liên Hợp Quốc: đi hàng triệu người, họ vượt ra khỏi tính toán và tạo thành cái gọi là—vì thiếu một thuật ngữ tốt hơn hay một mức độ trắc ẩn cao hơn—di cư.

Bất kể tên gọi thích đáng cho những người này là gì, bất kể động cơ, nguồn gốc và điểm đến của họ, bất kể tác động của họ đối với xã hội mà họ từ bỏ và nơi họ đến—có một điều hết sức rõ ràng: họ làm ta rất khó nói về tình cảnh của nhà văn lưu vong với một bộ mặt nghiêm túc.

Nhưng chúng ta phải nói; và không chỉ vì văn chương, như sự nghèo đói, vốn được biết là chăm sóc cho đồng loại của nó, mà hơn thế, vì niềm tin cổ xưa và có lẽ là vô căn cứ rằng nếu những bậc thầy của thế giới này được đọc tốt hơn, sự quản lý yếu kém và nỗi đau thương khiến hàng triệu người phải đổ ra đường có thể giảm bớt phần nào. Vì không có nhiều thứ để đặt hy vọng cho một thế giới tốt đẹp hơn, vì mọi thứ khác dường như đều thất bại cách này hay cách khác, nên bằng cách nào đó, chúng ta phải cho rằng văn chương là loại hình bảo hiểm đạo đức duy nhất mà một xã hội có; rằng nó là liều thuốc giải độc vĩnh viễn cho nguyên tắc cá lớn nuốt cá bé; rằng nó đem đến lý lẽ tốt nhất chống lại bất kỳ loại giải pháp tập thể kiểu máy ủi nào—nếu chỉ vì sự đa dạng của con người là tất cả của văn chương, cũng như là raison d’être của nó. Chúng ta phải nói bởi chúng ta phải nhấn mạnh rằng văn chương là người thầy vĩ đại nhất—chắc chắn vĩ đại hơn bất cứ tín ngưỡng nào—của sự tinh tế của con người, và rằng can thiệp vào sự tồn tại tự nhiên của văn chương và vào khả năng học các bài học của văn chương của con người, một xã hội sẽ hạ thấp tiềm năng của chính nó, làm chậm lại tốc độ phát triển của nó, và rốt cuộc, có lẽ, đặt nền tảng của chính xã hội đó vào tình thế nguy hiểm. Nếu điều này có nghĩa là chúng ta phải nói về chính mình thì càng tốt: không phải cho bản thân chúng ta mà có lẽ là cho văn chương.

Dù muốn hay không, những gastarbeiter và người tị nạn kiểu gì thì kiểu về cơ bản đều dứt bông cẩm chướng ra khỏi ve áo của một nhà văn lưu vong. Phải rời chỗ và đặt sai chỗ là chuyện bình thường của thế kỷ này. Và điểm chung giữa nhà văn lưu vong của chúng ta với một gastarbeiter hay một người tị nạn chính trị là trong cả hai trường hợp họ đều đang chạy khỏi cái tồi tệ hơn đến cái tốt đẹp hơn. Sự thật của vấn đề là từ một chế độ chuyên chế người ta chỉ có thể bị đày đến một chế độ dân chủ. Bởi con ngựa xám già của lưu đày không còn là nó như trước. Nó không còn là rời Rome văn minh đến Sarmatia man rợ, cũng không phải là đày một người từ Bulgaria đến Trung Quốc. Không, như một quy luật, cái diễn ra là sự chuyển dịch từ một chốn lạc hậu về chính trị và kinh tế đến một xã hội công nghiệp tiên tiến với lời cuối về tự do cá nhân trên môi. Và phải nói thêm rằng có lẽ đi theo con đường này đối với một nhà văn lưu vong, theo nhiều cách, cũng giống như trở về nhà—bởi anh ta đến gần hơn chỗ đứng của những lý tưởng đã truyền cảm hứng cho anh ta từ đầu.

Nếu phải gán một thể loại cho cuộc đời của một nhà văn lưu vong thì đó sẽ là bi hài kịch. Nhờ hiện thân trước đây mà anh ta có khả năng trân trọng các lợi thế xã hội và vật chất của nền dân chủ tốt hơn nhiều so với người bản xứ. Song chính vì lẽ đó (mà sản phẩm phụ trước nhất là rào cản ngôn ngữ) mà anh ta nhận thấy mình hoàn toàn không thể đóng bất kỳ vai trò có ý nghĩa nào trong xã hội mới. Nền dân chủ mà anh ta đến mang lại cho anh ta sự an toàn về thể chất nhưng lại làm anh ta tầm thường về mặt xã hội. Và sự thiếu ý nghĩa là điều mà không một nhà văn nào, lưu vong hay không, có thể chấp nhận.

Bởi lẽ, cuộc tìm ý nghĩa là cái rất thường xuyên tạo nên phần còn lại của sự nghiệp anh ta. Nói khiêm tốn nhất, nó thường là kết quả của một sự nghiệp văn chương. Trong trường hợp của một nhà văn lưu vong, nó hầu như luôn luôn là nguyên nhân khiến anh ta bị lưu đày. Và ta rất muốn nói thêm ở đây rằng sự tồn tại của ham muốn này trong một nhà văn là phản ứng có điều kiện của anh ta đối với cấu trúc dọc của xã hội gốc của anh ta. (Còn nhà văn sống trong một xã hội tự do, sự hiện diện của ham muốn này gợi lên cái ký ức lại giống mà mọi nền dân chủ đều có về cái quá khứ vô hiến của mình).

Về mặt này, tình cảnh của một nhà văn lưu vong thực sự thảm hơn nhiều so với một gastarbeiter hay một người tị nạn trung bình. Khao khát được công nhận khiến anh ta bồn chồn và không để ý đến sự vượt trội về thu nhập với tư cách một giáo viên đại học, giảng viên, chủ biên tạp chí nhỏ, hay đơn giản một người góp bài—vì đây là những nghề phổ biến nhất của các tác giả lưu vong ngày nay—so với mức lương của người làm việc chân tay. Tức là, người đàn ông của chúng ta có một chút suy đồi, gần như theo định nghĩa. Nhưng cảnh một nhà văn vui mừng trong sự không quan trọng, trong sự được bỏ lại một mình, trong sự ẩn danh cũng hiếm thấy như cảnh một con vẹt mào ở vòng cực, ngay cả dưới những hoàn cảnh tốt nhất có thể. Ở các nhà văn lưu vong, thái độ này hầu như không có. Ít nhất là nó vắng mặt trong căn phòng này. Có thể hiểu được, tất nhiên, nhưng vẫn đáng buồn.

Đáng buồn vì nếu có điều gì tốt đẹp ở lưu đày thì đó là nó dạy cho chúng ta sự khiêm nhường. Thậm chí có thể tiến thêm một bước mà nói rằng lưu đày là bài học tối hậu về đức tính đó. Và điều đó đặc biệt vô giá đối với một nhà văn vì nó đặt anh ta vào góc nhìn dài nhất có thể. “Và ngươi đã xa trong nhân loại,” như Keats nói. Lạc trong nhân loại, trong đám đông—đám đông?—giữa hàng tỷ người; trở thành một cái kim trong đống cỏ khô trong tục ngữ—nhưng một cái kim mà ai đó đang tìm kiếm—lưu vong nó là như thế. Kéo sự phù phiếm của ngươi xuống, nó nói, ngươi chỉ là một hạt cát trong sa mạc. Đánh giá mình không phải trước những bạn viết mà trước sự vô tận của con người: nó cũng gần như thê thảm như sự vô tận phi con người. Người phải từ cái đó mà nói, chứ không phải từ sự đố kỵ hay tham vọng của ngươi.

Khỏi phải nói, lời kêu gọi này chìm vào im lặng. Bằng cách nào đó một nhà bình luận về cuộc sống lại ưa vị trí của anh ta hơn đối tượng của anh ta và khi sống lưu vong, anh ta xem vị trí đó là đủ nghiệt ngã để không làm trầm trọng thêm nó nữa. Còn đối với những lời kêu gọi như vậy thì anh ta xem là không thích đáng. Anh ta có thể đúng, mặc dù lời kêu gọi sự khiêm nhường thì luôn luôn đúng lúc. Bởi sự thật khác của vấn đề là lưu vong là một điều kiện siêu hình. Ít nhất, nó có một chiều siêu hình rất mạnh, rất rõ, và bỏ qua hoặc né tránh nó là tự lừa bản thân ra khỏi ý nghĩa của cái đã xảy đến với quý vị, là tự đày mình mãi mãi vào vị trí hứng chịu của mọi thứ, là chai cứng thành một nạn nhân không hiểu chuyện.

Chính vì thiếu những ví dụ tốt mà người ta không thể mô tả một phương thức ứng xử thay thế (dẫu Miłosz hay Musil xuất hiện trong tâm trí). Có lẽ như thế cũng phải, bởi chúng ta ở đây rõ ràng là để nói về thực tế của lưu đày, chứ không phải về tiềm năng của nó. Và thực tế của nó cốt là một nhà văn bị lưu đày liên tục chiến đấu và bày mưu khôi phục tầm quan trọng, cái vai trò dẫn đầu, thẩm quyền của anh ta. Cân nhắc chính của anh ta tất nhiên là những người ở quê nhà; nhưng anh ta cũng muốn làm đầu đàn trong ngôi làng đầy toan tính ác của các émigrés đồng hương. Chơi trò đà điểu trước siêu hình của điều kiện của mình, anh ta tập trung vào cái trước mắt và hữu hình. Điều này có nghĩa là hạ thấp các đồng nghiệp trong một cảnh ngộ tương tự; những cuộc luận chiến gay gắt với các ấn phẩm đối địch; vô số cuộc phỏng vấn với BBC, Deutsche Viele, ORTF, và VOA; thư ngỏ; phát biểu báo chí; đi dự hội nghị—các vị tự điền. Cái năng lượng trước đây tiêu tốn vào các hàng chờ thực phẩm hay phòng chờ mốc meo của các quan chức nhỏ lẻ giờ được giải phóng và tỏa đi hừng hực. Không ai kiểm soát, chưa kể người thân (bởi giờ anh ta đã là một người vợ của Caesar, nói đại khái, và không thể nghi ngờ—làm sao người vợ biết chữ, có lẽ, nhưng đã có tuổi của anh ta có thể sửa hay phản bác đấng tuẫn đạo đã được chứng nhận của mình?), đường kính cái tôi của anh ta lớn vượt và cuối cùng, bơm đầy CO2, nhấc anh ta lên khỏi thực tế—nhất là nếu anh ta sống ở Paris, nơi anh em nhà Mongolfiere đã đặt tiền lệ.

Đi bằng khinh khí cầu lúc nào cũng nguy hiểm và, trên hết, không thể đoán trước: người ta quá dễ trở thành trò chơi của gió, trong trường hợp này, gió chính trị. Chẳng ngạc nhiên khi tài công của chúng ta chú ý lắng nghe tất cả các dự báo, và đôi khi mạo hiểm tự mình dự đoán thời tiết. Tức là, không phải thời tiết của nơi anh ta bắt đầu hay nơi anh ta thấy mình trên đường đi, mà thời tiết ở điểm đến của anh ta, bởi người đi khinh khí cầu của chúng ta luôn luôn hướng về nhà. Và có lẽ sự thật thứ ba của vấn đề là một nhà văn lưu vong nói chung là một sinh vật hồi tưởng và hồi tố. Nói cách khác, hồi tưởng đóng một vai trò quá mức—so với cuộc sống của những người khác—trong sự tồn tại của anh ta, phủ bóng lên thực tại và làm lu mờ tương lai thành một cái gì đó đặc hơn cả món súp đậu bình thường. Như các nhà tiên tri giả trong Địa ngục của Dante, đầu anh ta vĩnh viễn quay ra phía sau và nước mắt, hay nước dãi, chảy ròng ròng giữa hai bả vai. Anh ta có khuynh hướng bi oán tự nhiên hay không không quan trọng: bị bó vào lượng khán giả hạn chế ở nước ngoài, anh ta không thể không nhung nhớ vô số khán giả, dù thực hay tưởng tượng, bị bỏ lại đằng sau. Nhóm đầu tiên bơm đầy anh ta nọc độc thế nào, thì nhóm thứ hai tiếp sức tưởng tượng cho anh ta thế đấy. Ngay cả khi đã có quyền tự do đi lại, thậm chí đã đi vài chuyến, anh ta sẽ bám chặt cái chất liệu quen thuộc trong quá khứ, tạo ra, nói đại khái, các phần tiếp theo của các tác phẩm trước đây. Tiếp cận chủ đề này, một nhà văn lưu vong rất có thể sẽ gợi lên Rome của Ovid, Florence của Dante và—sau một khoảng dừng nhỏ—Dublin của Joyce.

Quả thật, chúng ta đã có một phả hệ, và một phả hệ dài hơn thế nữa. Nếu muốn, người ta có thể lần ngược về Adam. Nhưng chúng ta nên cẩn thận về vị trí mà nó có xu hướng chiếm giữ trong tâm trí công chúng và của chính chúng ta. Chúng ta đều biết chuyện gì xảy đến với một gia đình quý tộc qua nhiều thế hệ hoặc qua một cuộc cách mạng. Các cây phả hệ không bao giờ tạo nên hay che khuất được rừng; và rừng hiện đang tiến lên. Tôi đang pha trộn các ẩn dụ ở đây, nhưng có lẽ có thể biện minh cho mình bằng cách nói rằng mong đợi cho mình cái loại tương lai mà chúng ta gán với số ít nói đến ở trên là thiếu thận trọng hơn là thiếu khiêm tốn. Tất nhiên một nhà văn thì luôn luôn tự xem mình như đã chết: và một nhà văn lưu vong thì càng như vậy, không nhiều cảm hứng từ sự lãng quên nhân tạo mà anh ta phải chịu từ nhà nước cũ bằng cái cách mà giới phê bình trên thị trường tự do say sưa nói về những người cùng thời với anh ta. Nhưng người ta nên thận trọng với kiểu tự xa lánh này, không vì bất cứ lý do nào khác ngoài việc nhận ra rằng cùng với sự bùng nổ dân số, văn chương cũng bắt đầu có những kích thước của một hiện tượng nhân khẩu học. Ngày nay đơn giản là có quá nhiều nhà văn trên mỗi độc giả. Vài thập niên trước, một người trưởng thành nghĩ về những cuốn sách hoặc tác giả chưa được đọc sẽ nghĩ ra ba mươi, bốn mươi cái tên; ngày nay nó sẽ lên đến hàng ngàn. Ngày nay người ta bước vào một hiệu sách giống như bước vào một cửa hàng âm nhạc ngập tràn các nhóm nhạc và nghệ sĩ solo thu âm, nghe hết họ sẽ mất hơn một đời. Và trong số hàng ngàn người đó có rất ít người là người lưu vong hoặc đặc biệt xuất sắc. Nhưng công chúng sẽ đọc họ mà không phải quý vị, bất chấp hào quang của quý vị, không phải vì nó trái tính hay lầm lạc mà bởi về mặt thống kê thì nó đứng về phía của sự tầm thường và rác rưởi. Nói cách khác, nó muốn đọc về chính nó. Trên bất cứ con phố nào của bất cứ thành phố nào trên thế giới ở bất cứ thời điểm nào bất kể đêm hay ngày đều có nhiều người chưa biết đến quý vị hơn những người đã biết.

Mối quan tâm đến văn chương lưu vong hiện nay liên quan, tất nhiên, đến sự trỗi dậy của các chế độ chuyên chế. Đây có lẽ là cơ hội của chúng ta với độc giả tương lai, mặc dù đó là loại bảo hiểm mà người ta muốn không cần đến. Phần vì cái cảnh báo cao thượng này, nhưng chủ yếu là vì không thể nghĩ đến tương lai theo cách nào khác ngoài sự chiến thắng trở về rực rỡ, nhà văn lưu vong bám chặt lấy khẩu súng của mình. Nhưng tại sao lại không nên? Sao phải cố dùng bất cứ gì khác, sao phải bận tâm dò dẫm tương lai theo cách nào khác, bởi dù sao nó cũng không thể đoán trước? Món đồ cũ tốt đã phục vụ anh ta ít nhất một lần: nó đã lấy cho anh ta sự lưu vong. Và lưu vong, suy cho cùng, là một kiểu thành công. Sao không thử một cách khác? Sao không tận dụng món đồ cũ tốt thêm chút nữa? Chưa kể những cái khác, giờ nó còn tạo nên chất liệu dân tộc học, và điều đó rất ghi điểm với các nhà xuất bản phương Tây, phương Bắc, hay (nếu quý vị phản đối một chế độ chuyên chế cánh hữu) thậm chí phương Đông. Và luôn có cơ hội có được một kiệt tác khi quý vị đi qua một bãi cỏ hai lần, một khả năng không lọt khỏi con mắt của nhà xuất bản, hoặc ít nhất nó có thể cung cấp cho các học giả tương lai khái niệm về một yếu tố “làm nên huyền thoại” trong tác phẩm của quý vị.

Nhưng nghe có vẻ thực tế đến đâu, đây chỉ là thứ hai hoặc thứ ba trong số những lý do khiến mắt nhà văn lưu vong dán chặt vào quá khứ. Lời giải thích chính nằm ở bộ máy hồi tưởng nói trên, được kích hoạt một cách vô tình trong một người bởi bằng chứng dù là ít ỏi nhất về sự xa lạ của môi trường xung quanh. Đôi khi hình dạng một chiếc lá phong là đủ, và mỗi cây có hàng nghìn lá. Ở một mức độ động vật, cỗ máy hồi tưởng này liên tục chuyển động trong một nhà văn lưu vong, mà anh ta gần như luôn luôn không biết. Dù dễ chịu hay buồn rầu, quá khứ luôn là một lãnh thổ an toàn, chỉ vì nó đã được trải qua; và khả năng quay lại, chạy lùi của loài—đặc biệt là trong suy nghĩ hoặc giấc mơ của nó, bởi ở đó nói chung chúng ta cũng được an toàn—là rất mạnh trong tất cả chúng ta, bất kể thực tế mà chúng ta phải đối mặt. Song cỗ máy này được tích hợp trong chúng ta không phải để trân trọng hay nắm bắt quá khứ (rốt cuộc, cả hai việc chúng ta đều không làm), mà là để trì hoãn sự xuất hiện của hiện tại—để, nói cách khác, làm chậm lại một chút sự trôi qua của thời gian. Hãy xem câu cảm thán chết người của Faust của Goethe.

Cái chính ở nhà văn lưu vong của chúng ta là anh ta cũng như Faust của Goethe, bám vào cái “khoảnh khắc” “tươi đẹp,” hay không quá tươi đẹp đến thế, không phải để ngắm nhìn nó mà là để trì hoãn cái khoảnh khắc tiếp theo. Không phải là anh ta muốn trẻ lại; anh ta đơn giản là không muốn ngày mai đến bởi anh ta biết nó có thể chỉnh sửa những gì anh ta thấy. Và ngày mai càng ép anh ta càng trở nên cố chấp. Có một giá trị khủng khiếp trong sự cố chấp này: nếu may mắn, nó có thể đạt đến cường độ của sự tập trung và sau đó, thật vậy, chúng ta có thể có được một tác phẩm văn chương lớn (công chúng đọc và các nhà xuất bản cảm nhận được điều đó, và do đó—như tôi đã nói—họ để mắt đến văn chương của những người lưu vong).

Tuy nhiên, thường xuyên hơn, sự cố chấp này tự biến nó thành sự lặp đi lặp lại của nỗi hoài niệm, tức, nói một cách thẳng thắn, đơn giản là sự thất bại trong việc đối phó với những thực tế của hiện tại hay những bất định của tương lai.

Người ta tất nhiên có thể cải thiện phần nào vấn đề bằng cách thay đổi cách kể chuyện, làm nó trở nên tiên phong hơn, nhồi một đống khiêu dâm, bạo lực, ngôn từ tục tĩu, v.v., theo kiểu của các đồng nghiệp trong thị trường tự do. Nhưng những thay đổi và đổi mới về phong cách phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện của cái “ở đó,” ở quê nhà, mà những liên kết với nó đã bị cắt đứt. Về phần gia vị, một nhà văn lưu vong hay không cũng không bao giờ muốn tỏ ra mình bị ảnh hưởng bởi những người cùng thời. Có lẽ một sự thật bổ sung của vấn đề này là lưu vong làm chậm sự phát triển phong cách của một người, là nó khiến một nhà văn trở nên bảo thủ hơn. Phong cách không phải con người mà là thần kinh của con người, và nhìn chung lưu vong cung cấp cho thần kinh của một người ít thứ gây kích thích hơn so với quê hương. Điều kiện này, phải nói thêm, phần nào khiến một nhà văn lưu vong lo lắng, không chỉ vì anh ta coi sự tồn tại ở quê nhà chân thật hơn sự tồn tại của mình (theo định nghĩa, và với tất cả những hậu quả có thật hoặc tưởng tượng đối với quá trình văn học bình thường), mà bởi vì trong tâm trí anh ta tồn tại nỗi nghi ngờ về một sự phụ thuộc giống như con lắc, hay tỷ lệ, giữa những thứ gây kích thích đó với tiếng mẹ đẻ của anh ta.

Một người lâm vào cảnh lưu vong vì nhiều lý do và dưới một số hoàn cảnh khác nhau. Một số nghe có vẻ tốt hơn, một số tệ hơn, nhưng sự khác biệt không còn quan trọng khi người ta đọc cáo phó. Trên giá sách chỗ của quý vị sẽ không phải do quý vị chiếm giữ mà là do sách của quý vị. Và chừng nào người ta còn khăng khăng muốn phân biệt giữa nghệ thuật và cuộc sống thì chừng đấy họ thấy cuốn sách của quý vị hay và cuộc sống của quý vị thảm hại còn tốt hơn là ngược lại. Tất nhiên, rất có thể là họ chẳng quan tâm cả hai.

Cuộc sống lưu vong, ở nước ngoài, trong một yếu tố nước ngoài, về cơ bản là một điềm báo về số phận dạng như cuốn sách của quý vị, về việc quý vị bị lạc trên giá giữa những người mà quý vị có điểm chung duy nhất là chữ cái đầu trong tên họ. Quý vị ở đây, trong phòng đọc của một thư viện khổng lồ, vẫn mở… Người đọc sẽ không quan tâm làm thế nào quý vị ở đây. Để mình không bị gấp lại và xếp xó, quý vị phải nói với độc giả của mình, kẻ nghĩ mình biết tất cả, một điều gì đó mới lạ về phẩm chất—về thế giới và bản thân anh ta. Nếu điều này nghe có vẻ hơi quá gợi ý thì cứ vậy đi, bởi dù sao gợi ý cũng là tên của toàn bộ trò chơi, và bởi quả thật khoảng cách mà sự lưu vong đặt giữa tác giả và các nhân vật của anh ta đôi khi cầu đến việc sử dụng các biểu tượng thiên văn hoặc giáo hội.

Đây là điều khiến người ta nghĩ rằng “lưu đày” có lẽ không phải là từ thích hợp nhất để mô tả điều kiện của một nhà văn buộc phải (vì nhà nước, vì sợ hãi, vì nghèo đói, vì chán) rời bỏ đất nước mình. “Lưu đày” bao hàm, cùng lắm, khoảnh khắc của sự ra đi, của sự trục xuất; cái theo sau đó quá thoải mái và quá tự chủ để được gọi bằng cái tên này, thứ gợi lên rất mạnh một nỗi đau buồn hiểu được. Chính việc tụ họp ở đây chỉ ra rằng nếu chúng ta quả thật có một mẫu số chung thì nó thiếu một cái tên. Chúng ta có chịu đựng một mức độ tuyệt vọng như nhau không, thưa quý vị? Chúng ta có bị tách rời khỏi công chúng của mình như nhau không? Chúng ta có đều sống ở Paris không? Không, nhưng cái ràng buộc chúng ta là số phận giống như cuốn sách của chúng ta, nằm nghĩa đen và biểu tượng trên bàn hoặc sàn của cái thư viện khổng lồ ở các góc khác nhau của nó, để bị giẫm lên hoặc được nhặt lên bởi một độc giả hơi hơi tò mò hay—tệ hơn—bởi một thủ thư mẫn cán. Thứ mới lạ về phẩm chất mà chúng ta có thể kể cho độc giả ấy là cái tâm tính tự chủ, giống như phi thuyền này mà tôi chắc là đến thăm từng người trong chúng ta, nhưng hầu hết các trang giấy của chúng ta chọn không thừa nhận những chuyến thăm đó.

Chúng ta làm thế vì những lý do thực tế, nói đại khái, hoặc những cân nhắc thể loại. Bởi vì con đường này nằm sự điên rồ hoặc mức độ lạnh lùng gắn với những người dân địa phương mặt nhợt nhạt hơn là với một cuộc lưu đày máu nóng. Nhưng con đường kia lại nằm—và gần—sự tầm thường. Toàn bộ chuyện này đối với quý vị có thể giống như một công việc Nga điển hình là ban hành các hướng dẫn về văn chương, trong khi trên thực tế, đó đơn giản là phản ứng của một người khi thấy một tác giả lưu vong—các tác giả Nga, trước hết—ở phía tầm thường của đức hạnh. Đó là một sự lãng phí vô cùng, bởi một sự thật nữa về điều kiện mà chúng ta gọi là lưu đày là nó làm tăng tốc rất lớn chuyến bay—hoặc sự trôi dạt—đáng ra chuyên nghiệp của một người vào sự cô lập, vào một phối cảnh tuyệt đối: vào điều kiện mà người ta chỉ còn lại chính mình và ngôn ngữ của chính mình, không ai hay không gì ở giữa. Sự lưu đày đưa quý vị qua một đêm đến nơi mà bình thường sẽ mất cả đời để đi. Nếu điều này nghe như một đoạn quảng cáo thì cứ vậy đi, vì đã đến lúc bán ý tưởng này. Bởi vì tôi thực sự mong nó có nhiều người tiếp nhận hơn. Có lẽ một phép ẩn dụ sẽ giúp: làm một nhà văn lưu vong giống như làm một con chó hay một con người, bị phóng vào vũ trụ trong một khoang chứa (giống một con chó, tất nhiên, hơn một con người, vì người ta sẽ không bao giờ bận tâm đến việc đưa quý vị về). Và khoang chứa của quý vị là ngôn ngữ của quý vị. Để kết thúc phép ẩn dụ, phải nói thêm rằng chẳng bao lâu hành khách sẽ phát hiện ra khoang chứa không hướng về phía trái đất mà hướng ra ngoài không gian.

Đối với một người trong nghề của chúng ta, cái điều kiện mà chúng ta gọi là lưu vong trước hết là một sự kiện ngôn ngữ: một nhà văn lưu vong bị đẩy, hoặc rút, vào tiếng mẹ đẻ của mình. Có thể nói, từ là thanh kiếm, nó biến thành tấm khiên của anh ta, thành khoang chứa của anh ta. Cái bắt đầu như một mối quan hệ thân mật riêng tư với ngôn ngữ, trong lưu vong nó trở thành số phận—ngay cả trước khi nó trở thành một nỗi ám ảnh hay một nghĩa vụ. Một ngôn ngữ sống, theo định nghĩa, có một khuynh hướng và lực đẩy ly tâm; nó cố gắng trùm lên càng nhiều mặt đất càng tốt—và ra càng nhiều không gian càng tốt. Bởi vậy mà sự bùng nổ dân số, và bởi vậy mà lối đi tự chủ của quý vị ra ngoài, vào cõi của một chiếc kính viễn vọng hay một lời cầu nguyện.

Nói một cách nào đó chúng ta đều làm công cho một cuốn từ điển. Bởi tự nhiên một cuốn từ điển, một bản toát yếu những ý nghĩa cho phận người này hoặc kia, cho kinh nghiệm này hoặc kia. Nó là một từ điển của cái ngôn ngữ mà cuộc sống dùng để nói với con người. Chức năng của nó là cứu người tiếp theo, một người mới đến, khỏi rơi vào một cái bẫy cũ, hoặc giúp anh ta nhận ra, nếu đã rơi vào cái bẫy đó, rằng anh ta đã trúng phải một sự trùng ngôn. Bằng cách này, anh ta sẽ ít bị ấn tượng hơn—và, theo một cách nào đó, tự do hơn. Bởi biết ý nghĩa của những điều kiện của cuộc sống, của cái xảy đến với quý vị, là giải phóng. Đối với tôi cái điều kiện mà chúng ta gọi là lưu vong cần một sự giải thích đầy đủ hơn; rằng, nổi tiếng vì nỗi đau của nó, nó cũng nên được biết đến vì sự vô hạn làm cùn đi nỗi đau của nó, vì sự lãng quên, sự tách rời, sự thờ ơ của nó, vì những viễn cảnh con người và phi con người hãi hùng của nó, mà chúng ta chẳng có thước đo nào ngoài chính mình.

Chúng ta phải làm nó dễ dàng hơn cho người tiếp theo, nếu không thể làm nó an toàn hơn. Và cách duy nhất để giúp anh ta dễ dàng hơn, khiến anh ta bớt sợ hãi về nó, là cho anh ta toàn bộ thước đo về nó—tức là, như chúng ta có thể bao lấy nhiều nhất. Chúng ta có thể tranh luận liên tu bất tận về những trách nhiệm và lòng trung thành của mình (đối với người cùng thời, quê hương đất mẹ, những vùng đất khác, văn hóa, truyền thống, v.v.) nhưng trách nhiệm này, hay đúng hơn, cơ hội này, để cho người tiếp theo một chút tự do hơn—bất kể anh ta và những nhu cầu của anh ta có lý thuyết thế nào—không nên trở thành một chủ đề để do dự. Nếu điều này đối với quý vị có vẻ quá cao cả và nhân văn thì tôi xin lỗi. Nó thật ra không mang tính nhân văn nhiều bằng mang tính tất định, dẫu người ta không nên bận tâm đưa ra những khác biệt tinh vi như vậy. Tôi chỉ đang cố gắng nói là, nếu có một cơ hội, trong chuỗi nhân quả vĩ đại của mọi thứ, chúng ta cũng có thể thử thôi làm những hệ quả xủng xoảng của nó và cố gắng chơi lại nguyên nhân. Cái điều kiện mà chúng ta gọi là lưu vong đem lại chính xác kiểu cơ hội đó.

Nhưng nếu chúng ta không tận dụng nó, nếu chúng ta quyết định tiếp tục làm kết quả và chơi trò lưu vong theo cách cũ, thì nó không nên được biện minh như nỗi hoài niệm. Tất nhiên, nó liên quan đến sự cần thiết của việc kể về áp bức, và tất nhiên, điều kiện của chúng ta phải là một lời cảnh báo cho bất cứ người nào biết nghĩ đang chơi đùa với ý tưởng về một xã hội lý tưởng. Đó là giá trị của chúng ta đối với thế giới tự do. Đó là chức năng của chúng ta.

Nhưng có lẽ giá trị lớn hơn và chức năng lớn hơn của chúng ta nằm ở chỗ chúng ta là hiện thân vô tình của cái ý tưởng nản lòng rằng một con người được giải phóng thì không phải là một con người tự do, rằng sự giải phóng chỉ là phương tiện để đạt được tự do và không đồng nghĩa với nó. Điều này làm nổi bật mức độ thiệt hại có thể gây ra cho loài người và chúng ta có thể cảm thấy tự hào khi đóng vai trò này. Tuy nhiên, nếu chúng ta muốn đóng một vai trò lớn hơn, vai trò của một người tự do, thì chúng ta phải có khả năng chấp nhận—hoặc ít nhất là bắt chước—cách một người tự do thất bại. Một người tự do, khi thất bại, không đổ lỗi cho ai.

Joseph Brodsky, “The Condition We Call Exile, or Acorns Aweigh,” On Grief and Reason (Farrar, Straus and Giroux, 1995). This essay was first published in The New York Review of Books (January 21, 1988 Issue).

Copyright © 1995 by Joseph Brodsky | Nguyễn Huy Hoàng dịch.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on April 29, 2021 by in Văn chương & Phê bình and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

%d bloggers like this: