Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Salman Rushdie: Ghi chép về viết và dân tộc


Salman Rushdie.jpg

Salman Rushdie (1947–) là nhà văn người Anh gốc Ấn. Tiểu luận “Notes on Writing and the Nation” được viết vào tháng 4 năm 1997 cho Index for Censorship, đăng trên Harper’s Magazine, và sau này được in trong Rushdie, Step Across This Line: Collected Nonfiction 1992-2002 (Modern Library, 2003).

Ghi chép về viết và dân tộc

1

The ousel singing in the woods of Cilgwri,
Tirelessly as a stream over the mossed stones,
Is not so old as the toad of Cors Fochno
Who feels the cold skin sagging round his bones.

(Con sáo đen hót trong rừng xứ Cilgwri
Không biết mệt như dòng suối trên những tảng đá rêu
Chưa quá già như con cóc xứ Cors Fochno
Cảm nhận được làn da lạnh chảy xệ quanh xương mình.)

Rất ít nhà văn gắn bó sâu sắc với quê hương mình như R. S. Thomas, một nhà dân tộc chủ nghĩa người Welsh, người có những bài thơ tìm cách—bằng cách ghi nhận, tranh luận, tán dương, thần thoại hóa— viết dân tộc mình như một hữu thể mãnh liệt, trữ tình. Nhưng chính R. S. Thomas này cũng viết:

Hate takes a long time
To grow in, and mine
Has increased from birth;
Not for the brute earth…
I find
This hate’s for my own kind.

(Sự thù hận cần nhiều thời gian
Để phát triển, và sự thù hận của tôi
Thì lớn dậy từ lúc sinh ra;
Không phải với trái đất hung dữ…
Mà tôi thấy
Sự thù hận ấy là với đồng bào.)

Thật ngạc nhiên khi tìm thấy sự thừa nhận một cái gì đó gần với sự tự thù hận trong những dòng thơ của một thi sĩ của dân tộc. Nhưng đây có lẽ là dạng dân tộc chủ nghĩa duy nhất mà một nhà văn có thể trở thành. Khi tưởng tượng được chấp cánh bằng đam mê, nó nhìn thấy bóng tối cũng như ánh sáng. Cảm nhận một cách mãnh liệt là cảm nhận được sự khinh bỉ cũng như sự tự hào, thù hận cũng như tình yêu. Những sự khinh bỉ tự hào ấy, tình yêu thù hận ấy, thường đem lại cho nhà văn cơn thịnh nộ của một dân tộc. Dân tộc cần những bài ca, những lá cờ. Nhà thơ mang đến bất hòa. Giẻ rách.

2

Các mối liên kết đã được tạo nên giữa sự phát triển lịch sử của “tự sự” kép của tiểu thuyết và quốc gia dân tộc. Tiến trình của một câu chuyện thông qua những trang giấy hướng đến mục đích của nó được so sánh với hình ảnh bản thân của dân tộc, thông qua lịch sử hướng đến vận mệnh hiển nhiên của nó. Sự song song hấp dẫn như thế, những ngày này, tôi nghĩ về nó với chút nghi ngờ. Mười một năm trước, tại đại hội PEN nổi tiếng ở New York City, các nhà văn của thế giới đã thảo luận “Sự tưởng tượng của nhà văn và sự tưởng tượng của nhà nước,” một chủ đề hùng vĩ kiểu Mailer, được gợi lên, dĩ nhiên, bởi Norman Mailer. Ngạc nhiên làm sao khi có bao nhiêu cách đọc cái chữ “và” nhỏ bé ấy. Đối với nhiều người trong chúng tôi, nó mang nghĩa “so với.” Các nhà văn Nam Phi— Gordimer, Coetzee—trong thời kỳ apartheid đã phản đối định nghĩa chính thức của dân tộc. Có lẽ, giải cứu dân tộc đích thực khỏi những người đang giam giữ nó. Các nhà văn khác đồng cảm với dân tộc của mình hơn. John Updike đã hát một bài thánh ca không thể nào quên để ngợi ca những hộp thư nhỏ của Mỹ, biểu tượng, đối với ông, của sự tự do truyền tải tư tưởng. Danilo Kis đưa ra ví dụ về một “trò đùa” của nhà nước: một lá thư, ông nhận ở Paris, được gửi từ nơi mà khi ấy vẫn còn là Nam Tư. Bên trong phong bì dán kín, đóng dấu trên trang đầu tiên, là dòng chữ Lá thư này chưa bị kiểm duyệt.

3

Dân tộc hoặc thu nạp những nhà văn vĩ đại nhất của mình (Shakespeare, Goethe, Camoens, Tagore), hoặc tìm cách tiêu diệt họ (cuộc lưu vong của Ovid, cuộc lưu vong của Soyinka). Cả hai số phận ấy đều có vấn đề. Sự im lặng sùng kính không thích hợp với văn chương; các nhà văn vĩ đại tạo ra một tiếng động lớn trong tâm trí mình. Có những người tin rằng đàn áp thì tốt cho các nhà văn. Điều này là sai lầm.

4

Coi chừng nhà văn nào cho mình là tiếng nói điển hình của một dân tộc. Điều này bao gồm những dân tộc theo chủng tộc, giới, thiên hướng tình dục, sự đồng cảm có chọn lọc. Đây là Chủ nghĩa nhân danh mới. Coi chừng những sự nhân danh!

Chủ nghĩa nhân danh mới đòi hỏi sự nâng cao, nhấn mạnh sự tích cực, đưa ra chỉ dẫn đạo đức khơi gợi. Nó ghê tởm cảm giác bi kịch về cuộc sống. Coi văn học không thể thoát được tính chính trị, nó thay thế các giá trị chính trị bằng các giá trị văn học. Nó là kẻ giết tư tưởng. Coi chừng!

5

Be advised my passport’s green.
America I’m putting my queer shoulder to the wheel.
To forge in the smithy of my soul the uncreated conscience of my race.

(Xin lưu ý màu xanh lá trên hộ chiếu của tôi.
Nước Mỹ, tôi đang đặt đòn vai lẻ loi của mình dưới guồng bánh.
Để rèn trong lò rèn linh hồn tôi cái lương tâm chưa được tạo ra của chủng tộc tôi.)

Albania của Kadare, Bosnia của Ivo Andric, Nigeria của Achebe, Colombia của García Márquez, Brazil của Jorge Amado: các nhà văn không thể phủ nhận sự hấp dẫn của dân tộc, cơn thủy triều của nó trong dòng máu họ. Viết như lập bản đồ: phép lập bản đồ trí tưởng tượng [Imagination]. (Hoặc, như lý thuyết phê bình hiện đại có thể đánh vần nó, Imagi/Nation.) Tuy nhiên, trong tác phẩm tốt nhất, bản đồ của một dân tộc hóa ra cũng sẽ là bản đồ của thế giới.

6

Lịch sử đã trở nên gây tranh cãi. Sau Đế chế, trong thời đại của siêu quyền lực, dưới “dấu chân” của sự đơn giản hóa mang tính đảng phái chiếu xuống từ những vệ tinh, chúng ta không còn có thể dễ dàng đồng ý cái gì là đúng, chưa nói đến việc nó có thể mang ý nghĩa gì. Văn học đã bước vào cái vòng ấy. Các nhà sử học, các ông trùm truyền thông, các chính trị gia không quan tâm kẻ xâm nhập, nhưng kẻ xâm nhập lại thuộc dạng cứng đầu. Trong bầu không khí mơ hồ ấy, trên mặt đất bị giẫm nát ấy, trong những vùng nước đục ấy, có việc cho anh ta làm.

7

Chủ nghĩa dân tộc cũng làm tha hóa các nhà văn. Những sự can thiệp tai hại của Vide Limonov vào cuộc chiến ở Nam Tư cũ. Trong thời đại của những chủ nghĩa dân tộc được định nghĩa hẹp hơn bao giờ hết, của chủ nghĩa bộ lạc bị khép kín, người ta sẽ thấy các nhà văn thốt ra những tiếng hô chiến tranh của bộ lạc mình. Các hệ thống đóng luôn hấp dẫn nhà văn. Đó là lý do rất nhiều tác phẩm đề cập đến tù nhân, các lực lượng cảnh sát, bệnh viện, trường học. Dân tộc có phải một hệ thống đóng? Trong thời khắc quốc tế hóa này, còn hệ thống nào có thể tiếp tục đóng? Chủ nghĩa dân tộc là “cuộc nổi dậy chống lại lịch sử” tìm cách đóng những gì không thể còn đóng. Tìm cách rào lại những gì không nên bị rào.

Tác phẩm tốt thừa nhận một dân tộc không biên giới. Những nhà văn phụng sự biên giới đã trở thành lính biên phòng.

8

Nếu tác phẩm liên tục quay về phía dân tộc, thì nó cũng liên tục quay đi. Nhà trí thức mất gốc có chủ đích (Naipaul) nhìn nhận thế giới như chỉ một trí tuệ tự do mới có thể nhìn nhận, đến nơi có hành động và đưa ra những báo cáo. Nhà trí thức nhổ bỏ ý chí của mình (một nhóm bao gồm, trong những ngày này, nhiều nhà văn Ả Rập tốt nhất) bác bỏ đường biên giới hẹp từng bác bỏ anh ta. Có mất mát to lớn, và nhiều khao khát, trong sự mất gốc như thế. Nhưng cũng có cái được. Dân tộc không biên giới không phải là ảo tưởng.

9

Nhiều tác phẩm vĩ đại không có nhu cầu về phương diện xã hội. Nỗi đau của nó đến từ bên trong. Không gian công cộng không là gì với Elizabeth Bishop. Ngục tù của bà—tự do của bà—chủ đề của bà nằm ở nơi khác.

Lullaby.
Let nations rage,
Let nations fall.
The shadow of the crib makes an enormous cage
upon the wall.

(Khúc hát ru.
Để các dân tộc bùng lên,
Để các dân tộc sụp đổ.
Bóng chiếc nôi tạo thành cái lồng lớn
trên tường.)

Copyright © 2002 Salman Rushdie | Bản dịch © 2016 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on June 15, 2016 by in Văn chương & Phê bình, Văn hóa & Xã hội and tagged .

Archives

Categories

%d bloggers like this: