Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Viết trong bóng tối – David Grossman


David Grossman.jpg

Photograph by David Burton

David Grossman (1954–) là nhà văn người Israel. Các tác phẩm của ông đã được dịch sang gần 40 thứ tiếng và giành được nhiều giải thưởng, gần đây nhất là giải Man Booker Quốc tế năm 2017. Tiểu luận dưới đây vốn là bài nói chuyện Arthur Miller Freedom to Write Lecture của ông tại PEN’s World Voices Festival năm 2007, và được in trong David Grossman, Writing in the Dark: Essays on Literature and Politics, trans. Jessica Cohen (Farrar, Straus and Giroux, 2008).

Viết trong bóng tối

“Hạnh phúc hay khổ đau cá nhân của chúng ta, hoàn cảnh thực tế của chúng ta, rất quan trọng đối với những thứ mà chúng ta viết,” Natalia Ginzburg nói trong cuốn Khó mà nói về mình, trong một chương mà bà bàn luận về cuộc sống và việc viết của mình sau một bi kịch cá nhân.

Khó mà nói về bản thân mình, bởi vậy nên trước khi nói về trải nghiệm viết của chính mình lúc này, ở thời điểm này trong cuộc đời mình, cho phép tôi được nói vài lời về những ảnh hưởng của một chấn thương, một tình cảnh thảm họa, lên một xã hội và lên cả một dân tộc.

Tôi nhớ đến lời của con chuột trong truyện ngắn “Một ngụ ngôn nhỏ” của Kafka. Khi sa vào bẫy và con mèo lảng vảng đằng sau, chuột ta nói, “Chao ôi, thế giới càng ngày càng bé lại.” Sau nhiều năm sống trong một tình trạng xung đột chính trị, quân sự, và tôn giáo cực đoan và bạo lực, tôi rất buồn phải nói rằng con chuột của Kafka đã đúng: thế giới quả thật đang nhỏ đi, đang hẹp lại mỗi ngày. Tôi cũng có thể nói với các bạn về cái khoảng không dần xuất hiện giữa cá nhân với tình trạng bạo lực, hỗn loạn đang bao trùm gần như mọi khía cạnh của đời sống của anh ta.

Khoảng không này không trống rỗng mãi. Nó nhanh chóng tràn ngập sự thờ ơ, hoài nghi, và trên hết là tuyệt vọng—nỗi tuyệt vọng có thể tiếp sức cho một thực tế méo mó trong nhiều năm, đôi khi là nhiều thế hệ. Nỗi tuyệt vọng rằng người ta sẽ không bao giờ thay đổi được tình hình, không bao giờ cứu chuộc được nó. Và cùng cực nhất trong tất cả—nỗi tuyệt vọng về con người, về những gì mà tình hình méo mó này cuối cùng đã phơi bày trong mỗi người chúng ta.

Tôi cảm nhận được cái giá nặng nề mà tôi và những người xung quanh mình phải trả cho tình trạng chiến tranh kéo dài này. Một phần của cái giá này là sự thu hẹp diện tích bề mặt của tâm hồn chúng ta—những phần tiếp xúc với thế giới bạo lực, đầy rẫy nguy hiểm bên ngoài—và sự suy giảm khả năng và thái độ sẵn sàng cảm thông với tất cả những người khác đang phải chịu đau đớn. Chúng ta cũng phải trả cái giá này bằng cách dừng phán đoán đạo đức của mình lại, và từ bỏ việc thấu hiểu những gì mình nghĩ. Với một tình cảnh khủng khiếp, đầy dối lừa, và phức tạp đến thế—cả về đạo đức lẫn thực tế—chúng ta cảm thấy tốt hơn là đừng nghĩ hay đừng biết gì cả. Tốt hơn là giao việc suy nghĩ và hành động và đặt ra các tiêu chuẩn đạo đức cho những ai chắc chắn nằm “trong vùng hiểu biết.” Tốt hơn là đừng cảm nhận quá nhiều cho đến khi cuộc khủng hoảng chấm dứt—và nếu nó không bao giờ chấm dứt thì chí ít chúng ta cũng sẽ phải chịu đựng ít hơn, có một sự vô tri hữu ích, tự bảo vệ mình một cách tốt nhất có thể bằng một chút thờ ơ, một chút kiềm chế, một chút cố tình mù quáng, và một liều lớn thuốc tự gây mê.

Những nỗi sợ triền miên—và rất thật—nỗi sợ bị tổn thương, nỗi sợ cái chết, nỗi sợ những mất mát không sao chịu đựng nổi, thậm chí là sự sỉ nhục “đơn thuần,” cũng khiến mỗi người chúng ta, công dân và tù nhân của cuộc xung đột, làm thui chột sức sống, phạm vi trí tuệ và cảm xúc của mình, và bao bọc mình trong những lớp bảo vệ ngày càng dày cho đến khi chúng ta ngạt thở.

Con chuột của Kafka đã đúng: khi kẻ săn mồi dồn bạn lại, thế giới của bạn bé lại. Và ngôn ngữ mô tả nó cũng vậy.

Từ kinh nghiệm tôi có thể nói rằng ngôn ngữ mà các công dân dùng để mô tả tình cảnh của mình đang ngày càng trở nên nông cạn trong lúc xung đột tiếp diễn, dần dần biến thành một loạt sáo ngữ và khẩu hiệu. Bắt đầu bằng những từ ngữ được các hệ thống trực tiếp kiểm soát cuộc xung đột—quân đội, cảnh sát, bộ máy chính quyền—tạo ra. Xu hướng này lan rộng sang truyền thông đại chúng, từ đó tạo ra một thứ ngôn ngữ tinh vi xảo quyệt nhằm kể cho khán giả câu chuyện dễ nghe nhất (từ đó tạo ra một rào cản giữa mọi thứ mà nhà nước làm trong vùng xám xung đột với cách mà các công dân chọn nhìn nhận những việc làm đó). Quá trình này cuối cùng len lỏi vào ngôn ngữ riêng tư, thân mật của các công dân (ngay cả khi họ kịch liệt chối bỏ).

Sự biến đổi này rất dễ hiểu: sự phong phú tự nhiên của ngôn ngữ con người và khả năng chạm đến những sắc thái tinh tế nhất của sự tồn tại có thể bị tổn thương nghiêm trọng trong tình trạng xung đột, bởi lẽ chúng liên tục nhắc nhở chúng ta về thực tại rộng lớn mà chúng ta đã mất, về những sự phức tạp và tinh tế của nó. Tình cảnh càng vô vọng thì ngôn ngữ càng trở nên nông cạn, diễn ngôn công cộng càng mỏng manh, cho đến khi tất cả những gì còn lại chỉ là những lời buộc tội lẫn nhau đầy nhàm chán giữa các kẻ thù hoặc giữa các đối thủ chính trị trong nhà nước. Tất cả những gì còn lại chỉ là những câu nói sáo rỗng mà chúng ta dùng để mô tả kẻ thù và bản thân—những định kiến, những lo lắng hoang đường, và những sự khái quát hóa sống sượng mà chúng ta tự nhốt mình và kẻ thù trong đó. Thế giới quả thật đang bé lại.

Những suy nghĩ này không chỉ liên quan đến cuộc xung đột ở Trung Đông. Ở nhiều nơi trên thế giới ngày nay hàng tỷ người phải đối mặt với mối đe dọa đến sự tồn tại, các giá trị, quyền tự do, và căn tính con người. Gần như ai trong chúng ta cũng phải đối mặt với mối đe dọa của riêng mình, với lời nguyền của riêng mình. Mỗi người chúng ta đều cảm thấy—hoặc có thể đoán được—“tình cảnh” đặc biệt của mình có thể nhanh chóng biến thành một cái bẫy sẽ cướp đi sự tự do của mình, cảm giác thân thuộc ở đất nước mình, ngôn ngữ riêng tư, ý chí tự do của mình.

Trước thực tế này, các nhà văn và nhà thơ chúng ta viết. Ở Israel và Palestine, ở Chechnya và Sudan, ở New York và Congo. Có những lúc trong ngày làm việc, sau vài giờ viết, tôi nhìn lên và nghĩ: Bây giờ, vào chính khoảnh khắc này, một nhà văn khác mà tôi không quen biết cũng đang ngồi, ở Damascus hay Tehran, ở Kigali hay Dublin, một nhà văn như tôi cũng đang đắm chìm vào một tác phẩm sáng tạo lạ lùng, vô căn cứ, tuyệt vời, trong một thực tại chứa quá nhiều bạo lực và xa lánh, thờ ơ và suy giảm. Tôi có một đồng minh xa xôi không biết đến tôi, và cùng nhau chúng tôi đang dệt mạng lưới tuy vô hình dạng nhưng có sức mạnh to lớn này, sức mạnh thay đổi thế giới và tạo ra thế giới, sức mạnh khiến người câm cũng có thể cất tiếng nói và sức mạnh để mang đến tikkun—“sự sửa chữa”—trong ý nghĩa sâu xa nhất trong Kabbalah của từ này.

***

Về phần mình, trong các tác phẩm hư cấu mà tôi viết những năm gần đây, tôi gần như đã cố tình quay lưng lại với thực tế trước mắt đang cháy bỏng của đất nước mình, thực tế của những bản tin mới nhất. Tôi đã viết sách về thực tế này trước đây, và chưa bao giờ thôi thảo luận về nó và cố gắng hiểu nó qua các tiểu luận, bài viết, và phỏng vấn. Tôi đã tham gia hàng chục cuộc biểu tình và các sáng kiến hòa bình quốc tế. Tôi đã gặp những người láng giềng—một số là kẻ thù của tôi—mỗi lần tôi nghĩ có cơ hội đối thoại. Nhưng trong vài năm gần đây, từ một quyết định gần như là một sự phản kháng, tôi đã thôi viết về những vùng thảm họa này trong văn chương của mình.

Vì sao? Vì tôi muốn viết về những thứ khác, những thứ không kém quan trọng hơn, những thứ chúng ta khó tìm được thời gian, cảm xúc, và toàn bộ sự chú ý dành cho nó trong lúc cuộc chiến gần như vĩnh cửu đang làm mưa làm gió bên ngoài. Tôi viết về sự ghen tuông ám ảnh của một người chồng về vợ mình, về lũ trẻ vô gia cư trên các con phố ở Jerusalem, về một người đàn ông và một người đàn bà tạo ra một thứ ngôn ngữ riêng tư, gần như kín đáo trong mơ tưởng tình yêu. Tôi viết về nỗi cô đơn của Samson, anh hùng trong Kinh Thánh, tôi viết về những mối quan hệ phức tạp và rối rắm giữa những người phụ nữ và mẹ họ, và giữa con trẻ và bố mẹ nói chung.

Gần bốn năm trước, khi con trai thứ chuẩn bị nhập ngũ, tôi gần như không thể đứng tiếp nơi tôi đã đứng. Một cảm giác cấp bách và lo lắng ngập tràn trong tôi, không cho tôi chút nào ngơi nghỉ. Từ đó tôi bắt đầu viết một cuốn tiểu thuyết trực tiếp đối diện với thực tế khó khăn mà tôi đang sống, một cuốn tiểu thuyết mô tả làm thế nào mà sự tàn ác của tình cảnh bên ngoài đã xâm nhập vào những sợi vải tinh tế, riêng tư của một gia đình, và cuối cùng xé nó thành từng mảnh.

“Trong khoảnh khắc chúng ta viết,” Natalia Ginzburg nói, “một cách kỳ diệu chúng ta quên đi những hoàn cảnh trước mắt của cuộc đời mình… Nhưng dù chúng ta hạnh phúc hay khổ đau nó cũng khiến chúng ta viết theo một lối nhất định. Khi chúng ta hạnh phúc trí tưởng tượng của ta mạnh hơn; khi chúng ta khổ đau ký ức của ta hoạt động với sức sống mạnh mẽ hơn.”

Khó mà nói về bản thân mình. Tôi sẽ chỉ nói cái tôi có thể nói lúc này, từ nơi tôi đang đứng.

Tôi viết. Ý thức về cái thảm họa ập xuống tôi khi Uri, con trai tôi, qua đời trong Chiến tranh Li-băng lần hai giờ đây đã thấm sâu vào từng phút của cuộc đời tôi. Sức mạnh của ký ức quả thật là rất lớn và nặng nề, và có lúc có tác động làm tê liệt người ta. Tuy nhiên, việc viết đã tạo ra cho tôi một kiểu “không gian” nào đó, một sự nới rộng cảm xúc mà tôi chưa từng biết đến trước đây, nơi cái chết không chỉ là cái đối lập tuyệt đối, rõ ràng, với sự sống.

Các nhà văn biết rằng khi viết, chúng ta cảm nhận được thế giới đang chuyển động, đàn hồi, chứa đầy những khả năng—không bị đóng băng. Ở bất cứ nơi nào tồn tại yếu tố con người, nơi đó không có sự đóng băng và tê liệt, và không có nguyên trạng nào (ngay cả khi đôi lúc chúng ta sai lầm mà nghĩ là có; ngay cả khi có những người rất muốn chúng ta nghĩ là có).

Tôi viết, và thế giới không dồn tôi lại. Nó không bé lại. Nó đi theo hướng mở, tương lai, khả dĩ.

Tôi viết, và việc tưởng tượng làm tôi sống lại. Tôi không đóng đá hay tê liệt trước kẻ săn mồi. Tôi sáng tạo nhân vật. Có lúc tôi cảm thấy như mình đang đào người ta lên từ một lớp băng mà thực tại đã bao bọc họ. Nhưng có lẽ hơn bất cứ ai khác, tôi mới là người mà tôi đang đào lên lúc này.

Tôi viết. Tôi cảm nhận được nhiều khả năng tồn tại trong mỗi tình cảnh của con người, và tôi cảm nhận được khả năng lựa chọn trong số những khả năng đó. Tôi cảm thấy vị ngọt của tự do mà tôi nghĩ mình đã đánh mất. Tôi thích thú với sự phong phú của một thứ ngôn ngữ thực thụ, cá nhân, riêng tư. Tôi nhớ lại niềm vui của hơi thở tròn vẹn, đúng cách, khi tôi cố thoát khỏi nỗi sợ gò bó trước những khẩu hiệu và sáo ngữ. Tôi bắt đầu thở bằng cả hai lá phổi.

Tôi viết, và tôi cảm thấy việc dùng đúng và chính xác từ ngữ có tác dụng như một loại thuốc. Nó làm sạch bầu không khí mà tôi thở, loại bỏ các chất gây ô nhiễm, và làm thất bại kế hoạch của những kẻ lừa đảo ngôn ngữ và những kẻ hiếp dâm ngôn ngữ. Tôi viết và cảm thấy sự nhạy cảm của mình với ngôn ngữ và sự gần gũi với các lớp lang khác nhau của ngôn ngữ, với sự gợi cảm và hài hước của ngôn ngữ trở về với tôi, về với con người tôi trước khi tôi bị cuộc xung đột, bị các chính phủ và các quân đội, bị nỗi tuyệt vọng và bi kịch chiếm hữu.

Tôi viết. Tôi giải phóng mình khỏi một trong những cái tài đáng ngờ nhưng điển hình xuất hiện trong tình cảnh chiến tranh—tài làm kẻ thù, không gì ngoài kẻ thù. Tôi viết, và tôi không cố giấu mình trước sự chính danh và sự đau khổ của kẻ thù, trước bi kịch và sự phức tạp của cuộc đời họ, trước sai lầm và tội ác của họ, trước việc biết chính mình đang làm gì với họ. Tôi cũng không giấu mình trước những sự tương đồng đáng ngạc nhiên mà tôi phát hiện ra giữa mình và họ.

Tôi viết. Và đột nhiên tôi không còn chịu phận phải đối mặt với sự chia hai tuyệt đối, giả tạo, ngạt thở này—cái lựa chọn phi nhân tính giữa “nạn nhân” và “kẻ xâm lược” mà không có bất cứ lựa chọn thứ ba có nhân tính nào này. Khi viết, tôi có thể là một con người toàn vẹn, với những giao thiệp tự nhiên giữa các phần khác nhau, trong đó có những phần cảm thấy gần gũi hơn với nỗi đau và những tuyên bố của kẻ thù mà không cần từ bỏ căn tính của mình.

Có lúc, trong quá trình viết, tôi có thể nhớ lại những gì chúng ta đều cảm thấy ở Israel trong một khoảnh khắc hiếm có khi máy bay của Tổng thống Ai Cập Anwar Sadat hạ cánh ở Tel Aviv sau hàng thập niên chiến tranh giữa hai đất nước. Đột nhiên chúng ta nhận ra gánh nặng mà chúng ta đã mang theo cả đời mình lớn đến mức nào—gánh nặng của thù địch và sợ hãi và nghi ngờ. Gánh nặng của việc luôn luôn phải cảnh giác, phải luôn luôn là kẻ thù, mọi lúc. Hạnh phúc làm sao khi trong khoảnh khắc đó bộ giáp khổng lồ bằng nghi ngờ, thù hận, và định kiến được gỡ bỏ. Hạnh phúc đáng sợ làm sao khi đứng trần trụi, thuần khiết, và nhìn trước mắt mình một con người xuất hiện từ một mô tả hẹp hòi, một chiều mà chúng ta đã nhìn trong bao năm qua.

Tôi viết, và tôi đưa những cái tên riêng tư và thân mật nhất của mình ra một thế giới xa lạ bên ngoài. Nói một cách nào đó, tôi biến nó thành của mình. Làm như vậy tôi trở về từ một vùng đất lưu vong và xa lánh—tôi trở về nhà. Tôi đã thay đổi, chỉ một chút, cái vốn có vẻ không thể thay đổi trước đây. Khi mô tả sự độc đoán tàn ác nhất quyết định số phận của mình—dù là nhân tạo hay là tiền định—đột nhiên tôi phát hiện ra những nét tinh tế và những sắc thái mới. Tôi nhận ra rằng chỉ đơn giản là viết về sự độc đoán thôi cũng cho phép tôi di chuyển tự do trong sự hiện diện của nó. Rằng chính việc đứng lên chống lại nó đã cho tôi tự do—có lẽ là thứ tự do duy nhất mà con người có được trước bất cứ hình thức độc đoán nào—tự do được thể hiện bi kịch của hoàn cảnh của mình bằng từ ngữ của chính mình. Tự do được thể hiện mình một cách khác biệt, tươi mới, trước những mệnh lệnh hà khắc của sự độc đoán đe dọa bó buộc và khuất phục tôi.

Tôi cũng viết về những chuyện không thể nào khôi phục được. Về những chuyện không có chút an ủi. Sau đó, theo một cách mà tôi vẫn không thể nào giải thích được, những hoàn cảnh của cuộc đời tôi vẫn không dồn tôi lại và làm tôi tê liệt. Có nhiều lần trong ngày, khi ngồi ở bàn viết, tôi chạm vào nỗi buồn và mất mát như người ta chạm tay không vào dây điện, nhưng nó không giết chết tôi. Tôi không hiểu điều kỳ diệu này xảy ra như thế nào. Có lẽ sau khi kết thúc cuốn tiểu thuyết này, tôi sẽ cố gắng tìm hiểu. Không phải bây giờ. Bây giờ vẫn còn quá sớm.

Tôi viết về cuộc sống của đất nước mình, Israel. Một quốc gia bị tra tấn, bị chuốc thuốc đến quá liều bởi lịch sử, bởi những cảm xúc vượt quá những gì mà con người có thể chứa đựng, bởi quá nhiều sự kiện và bi kịch đến cùng cực, bởi quá nhiều nỗi sợ hãi và một sự tỉnh táo què quặt, bởi quá nhiều ký ức, bởi những hy vọng vụn vỡ, bởi một số phận độc nhất giữa các quốc gia. Đó là một sự tồn tại mà đôi khi có vẻ vay mượn quá nhiều từ chuyện cổ tích, thu hẹp những triển vọng được sống một cuộc sống bình thường như một đất nước của chúng ta.

Các nhà văn chúng ta biết rõ những giai đoạn tuyệt vọng và tự ghê tởm bản thân. Tác phẩm của chúng ta, về cơ bản, đòi hỏi phải tháo dỡ nhân cách và từ bỏ một số cơ chế phòng vệ hiệu quả nhất của chúng ta. Chúng ta sẵn sàng đấu tranh với những vấn đề khó khăn nhất, xấu xí nhất, thô sơ nhất, và đau đớn nhất của tâm hồn. Hết lần này đến lần khác, tác phẩm của chúng ta buộc chúng ta phải thừa nhận sự bất lực của mình với tư cách là con người và là những nghệ sĩ.

Thế nhưng—và đây là phép lạ tuyệt vời, thuật giả kim của việc làm của chúng ta—nói một cách nào đó, từ giây phút chúng ta cầm bút hay đặt tay lên bàn phím, chúng ta đã không còn là nạn nhân vô vọng của tất cả những gì đã nô dịch và giới hạn chúng ta trước khi chúng ta bắt đầu viết.

Chúng ta viết. Chúng ta thật may mắn: Thế giới không dồn chúng ta lại. Thế giới không bé lại.

Copyright © 2007 by David Grossman | Bản dịch © 2017 Nguyễn Huy Hoàng.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on June 16, 2017 by in Chính trị, Văn chương & Phê bình and tagged .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,517 other followers

%d bloggers like this: