Nguyễn Huy Hoàng

the star is fading

Về “For the Anniversary of My Death” của W. S. Merwin


ws merwin.jpg

Photograph by Lisa Kristine

Nguồn: Harold Bloom, “Critical Analysis of ‘For the Anniversary of My Death,’” in Bloom ed. and intro., W. S. Merwin (Bloom’s Major Poets) (Chelsea House Publishers, 2004), pp. 41–43.

Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng

For the Anniversary of My Death

Every year without knowing it I have passed the day
When the last fires will wave to me
And the silence will set out
Tireless traveler
Like the beam of a lightless star

Then I will no longer
Find myself in life as in a strange garment
Surprised at the earth
And the love of one woman
And the shamelessness of men
As today writing after three days of rain
Hearing the wren sing and the falling cease
And bowing not knowing to what

W. S. Merwin, “For the Anniversary of My Death,” The Lice (Atheneum, 1967).

(Xin xem bản dịch tiếng Việt, “Cho ngày giỗ của tôi,” của Phan Quỳnh Trâm tại đây.)

***

“For the Anniversary of My Death” được đưa vào tập thơ năm 1967, The Lice, cuốn sách cùng với cuốn The Moving Target năm 1963 được nhìn nhận rộng rãi là một bước chuyển lớn trong cách tiếp cận phong cách thơ của Merwin. Trong cả hai cuốn, nhà thơ gần như không dùng dấu câu dưới bất cứ hình thức nào, và lựa chọn từ của ông cũng đơn giản hơn, mang nhiều sự trừu tượng hơn cùng một cảm giác về cái phổ quát. Vẫn hiện diện trong hai tập thơ này là niềm say mê của ông đối với cái chết, sự hủy hoại, cái tinh thần, và cái tự nhiên, nhưng trớ trêu là nó mang một sức nặng lớn hơn, vì nó đã bỏ đi phần lớn sự bó buộc hình thức trong các tác phẩm trước đây.

“For the Anniversary of My Death” nắm bắt tốt mọi khía cạnh của phong cách của Merwin giữa những năm 1960. Bài thơ được trình bày dưới dạng hai khổ thơ bất cân xứng, nhưng với “bản lề” giữa khổ thơ đầu gồm năm dòng và khổ thứ hai gồm tám dòng, bài thơ gợi lên một bài sonnet ngược. Sự gần gũi duy nhất còn lại với các cách tiếp cận mang tính hình thức hơn là bài thơ vẫn duy trì việc viết hoa ở đầu mỗi dòng.

Bài thơ bắt đầu với việc người nói nói với người đọc, “Every year without knowing it I have passed the day”—dòng đơn/lời nói dài nhất trong bài thơ. Nó thiết lập tình huống. Dòng thơ kết thúc trước khi anh ta có thể chỉ ra đó là ngày gì, dù nhan đề bài thơ cho chúng ta biết rằng đó là ngày đánh dấu cái chết của anh ta trong tương lai. Anh ta nhận thức được rằng, với một số người, đó sẽ là một ngày kỷ niệm. Với anh ta, đó là ngày mà “the last fires will wave to me/ And the silence will set out/ Tireless traveler/ Like the beam of a lightless star”.

Bằng cách biến ánh sáng cuối thành một ngọn lửa, nhà thơ gọi ý một thứ gì đó vô tận hơn một ngọn đèn hoặc một ẩn dụ đương thời hơn cho cuộc đời. Hình ảnh ngọn lửa cũng mang tính nguyên thủy, và như vậy độc giả có thể thấy cuộc đời vừa gần gũi hơn vừa huyền bí hơn. Mức độ gợi ý và trừu tượng tương tự cũng hoạt động trong các hình ảnh khác. Cái chết là một “sự im lặng”, cái chết thì “không mệt mỏi” và do đó là không thể tránh khỏi, nhưng lại là cái gì đó không dễ giải thích. Cái “tia sáng của một ngôi sao không phát sáng” là một sự trừu tượng, giống như cái chết, giống như cái ý niệm là người nói đang sống, lần này qua lần khác, qua ngày kỷ niệm một điều gì đó chưa xảy ra, nhưng là điều duy nhất chắc chắn sẽ xảy ra.

Tuy nhiên, người nói biết rồi một ngày anh ta sẽ biết đến những trừu tượng và khúc mắc của cái chết. “Then”, anh ta nói, “I will no longer/ Find myself in life as in a strange garment”. Dòng thơ tỏ rõ là, bên cạnh việc có được sự rõ ràng với cái chết, người nói hiện tại không hiểu được cuộc đời, hoặc nó không vừa vặn với anh ta. Cuộc đời, dù được sống, lại xa lạ một cách nào đó. Cái nhìn của người nói về cái chết đòi hỏi nó phải là một sự tương phản với sự hoang mang hiện tại của anh ta. Những cụm từ theo sau thể hiện rằng sự xa lạ của anh ta bắt nguồn từ sự ngạc nhiên, “at the earth/ And the love of one woman/ And the shamelessness of men”.

Các nhà phê bình khác đã chỉ ra cách ghép đơn giản, nhấn mạnh, và nhất quán mạo từ “the” với các danh từ không xác định của Merwin đã đem lại một đặc thù huyền bí, cho phép trí tưởng tượng của độc giả hình thành ý tưởng về bất cứ danh từ nào được thể hiện như thế nào. Do vậy, ngoài việc thể hiện “the last fires”, “the silence”, và “the earth”, Merwin còn thể hiện tình yêu như “the love of one woman” và con chim sau đó, “the wren”, để cho chúng có vẻ là một phần của một câu chuyện lớn hơn, để xứng đáng với cách xử lý cụ thể như vậy. Bằng cách giả định nhận thức về một câu chuyện như vậy, hay khả năng tưởng tượng ra nó, Merwin có thể cho bài thơ của mình cộng hưởng với một nấc chuyện sâu hơn như ngôn ngữ của nó ngụ ý.

Cái cảm giác về một ảnh hưởng vắng mặt ấy đã thông báo sự kết thúc của bài thơ một cách mạnh mẽ. Sau khi người nói nói rằng anh ta sẽ có được sự rõ ràng trong cái chết, anh ta nói lại cuộc đời anh ta đang sống khó hiểu thế nào, bí ẩn thế nào.

Anh ta ghi nhận rằng một ngày, anh ta sẽ không còn “ngạc nhiên” như thế nào, nhưng đến thời điểm trước ba dòng cuối, anh ta lại đưa ra một ví dụ ít nhiều cụ thể hơn về những gì gây ra “sự ngạc nhiên”, với một ví dụ từ thời khắc hiện tại. Anh ta đang “writing after three days of rain/ Hearing the wren sing and the falling cease/ And bowing not knowing to what”. Ở đây, nhà thơ cũng dùng “the” để tạo hiệu ứng. Cụ thể, “the falling” được thể hiện vừa cụ thể vừa mơ hồ. Bằng cách viết “the falling,” Merwin giới hạn nhận thức xuống phạm vi nhỏ hơn so với khi ông viết đơn giản là “sing and falling cease,” trường hợp mà người ta có thể diễn giải cụm từ này thành vô số thứ “đang rơi”. Nhưng, vì có mặt mạo từ “the”, ý nghĩa ở đây chỉ có thể là cơn mưa được nhắc tới trước đó hoặc một sự rơi trừu tượng, như cái mà người ta có thể trải qua trong cái chết. Do Merwin dùng “the,” cụm từ này (“the falling”) hoạt động gần như như một đại từ, ngụ ý rằng ông nhắc đến một kiểu rơi cụ thể ở một thời điểm khác.

Đây là một hoạt động hơi khác so với hoạt động vận hành trong khổ thơ đầu. Trong khổ thơ đầu, bằng cách nhắc đến “những ngọn lửa cuối” và “sự im lặng”, nó hoạt động như thể người nói giả định rằng chúng ta biết cái anh ta nói đến. Giả định ấy ngụ ý một chiều sâu của câu chuyện, hay huyền thoại, làm nền cho bài thơ. Đó là cái câu chuyện dưới sâu vừa làm anh ta ngạc nhiên vừa có vẻ hứa hẹn cho anh ta sự rõ ràng, câu chuyện hợp nhất của cái chết.

Sự mơ hồ của phần còn lại của bài thơ, và vẻ phụ thuộc của nó vào một câu chuyện sâu hơn nhưng chưa được kể, đạt được sức mạnh trọn vẹn nhất trong dòng cuối cùng của bài thơ. Khi “cúi đầu trước điều gì chẳng biết”, người nói đang đáp lại một sự hiện diện mà anh ta tin tưởng và tin cậy, mặc dù, như cái ngày sẽ trở thành ngày kỷ niệm, anh ta không thể diễn tả hữu hình hay cụ thể. Thế khó xử của người nói là sẽ mãi mãi tin vào sự hiện diện của những thế lực lớn hơn và mãi mãi không biết đến bất cứ điều gì khác ngoài sự tồn tại của chúng. Với Merwin, nghịch lý ấy là một lực lượng định hình trong phần lớn thơ của ông, một công trình nhấn mạnh sự quen thuộc gần gũi và cụ thể với các thứ trên thế giới trong khi thừa nhận rằng cái chúng ta biết nhỏ hơn nhiều so với cái chúng ta có cảm giác hiểu là tồn tại.

Harold Bloom là nhà phê bình văn học người Mỹ và giáo sư hàm Sterling ngành nhân văn và văn học Anh tại Viện Đại học Yale. William Stanley Merwin là nhà thơ người Mỹ. Với hơn 50 tập thơ, dịch thuật, và văn xuôi, ông được trao hai giải Pulitzer cho thơ năm 1971 và 2009, giải dịch thuật của PEN năm 1969, giải Bollingen năm 1979, giải Tanning năm 1994, giải thơ Ruth Lilly năm 1998, và giải Sách Quốc gia Mỹ cho thơ năm 2005. Ông được bổ nhiệm, cùng Rita Dove và Louise Glück, làm Cố vấn Đặc biệt về Thơ cho Thư viện Quốc hội nhiệm kỳ 1999–2000, và Poet Laureate nhiệm kỳ 2010–11. Merwin được xem là một trong những người có đóng góp đáng kể nhất cho thơ trong cả thế kỷ 20 và 21.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Information

This entry was posted on April 3, 2017 by in Thơ, Văn chương & Phê bình and tagged , .

Categories

Archives

Enter your email address to follow this blog and receive notifications of new posts by email.

Join 2,520 other followers

%d bloggers like this: